NGUYỄN Đ̀NH HOÀNG

Phong Vận Kỳ Oan

thơ Vịnh Kiều

 

PHONG VẬN KỲ OAN

NGĂ TỰ CƯ (1)

 

Cuốn sách ấy đóa hoa hồng trong tủ sách

Ḍng thơ in trên trang giấy hoa tiên (2)

Nhân vật nữ – đóa hoa sầu bất tử

Khi người đời măi măi gọi tên

Cuốn sách thành đóa hồng đất nước

Thuở cha anh tay chép gửi trao nhau

Bằng nét bút mang h́nh tranh thủy mặc (3)

Những bức tranh đen trắng một gam màu

Trang giấy mỏng, trắng mong manh thủa ấy

Bỗng bừng lên vết đen cháy cuộc đời

Hoa nở đỏ giữa trần gian u ám

Ḷng th́ đau thăm thẳm mù khơi

Khung cửa sổ về khuya chập chờn bóng nến

Mắt người xưa cháy rực giữa đêm đen

Soi thấu cả tiếng đời run nấc nghẹn (4)

Nở thanh âm tiếng sấm kéo âm rền

Tiếng sấm mênh mang –trời mênh mang sấm

Đêm mùa hè giấc ngủ nồng say

Đôi giải yếm mở tuềnh toàng eo trắng

Mà hững hờ kéo sấm xuống chân mây

Nỗi đau viết thành hàng bên cửa sổ

Đọc Tiểu Thanh như đọc số phận ḿnh (5)

Gởi vào đâu đóa hoa hồng rực rỡ

Cháy lên rồi ngọn lửa trái tim xanh

Cháy lên rồi tiếng thơ Kiều lũ lượt

Ngọn bút lông quằn quại giữa nhân gian

Nét bút lượn bóng chim Hồng, chim Lạc

Mạch thơ Nôm – sông Quốc ngữ dâng tràn (6)

Sông lai láng bóng c̣ xa lục bát

Vẽ vào sương đôi cánh mịt mù bay

Kêu một tiếng thinh không trào nước mắt

Mấy trăm năm bật khóc rụng ngàn mây

Mây rụng xuống cơn mưa đời mê mải

Tiếng sấm đêm xa buồn đến nao ḷng

Bèo nước gió mây, phận người ch́m nổi

Tiếng ai ḥ lạnh ngắt ngă ba sông

Tiếng ḥ nối đôi bờ kim cổ

Ngọn bút lông loang sấm chớp trăm miền

Nét vạch cháy ngang trời sóng vỗ

Đóa hoa sầu lấp lánh hạt mưa đêm

Hạt kết chuỗi lời nhân gian khấn khứa

Vái van xin một quẻ bói thơ Kiều (7)

Chuyện son phấn mở trang kinh thần thánh (8)

Lời tiên tri –câu thơ cũ –vận vừa gieo

Vận gieo xuống trái tim sầu tan nát

Mà hương hoa bay khắp chín từng trời

Chốn oan ương chỉ tự ḿnh đi – ở

Ở cũng là đi đó Nguyễn Du ơi! (9)

 

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Chốn phong lưu của vần điệu đầy oan nghiệt ta tự ḿnh ở vào đó.

(2)

Một loại giấy quư, trước kia thường dùng in các sách quư như truyện Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên…

(3)

Chữ Hán là dạng chữ vuông, lại mang nhiều yếu tố tượng h́nh, nên người ta vẫn cho rằng mỗi chữ là một bức tranh. Chữ Nôm dùng chữ Hán để kư âm nên cũng mang đặc tính hội họa ấy.

(4)

"Độc điếu song tiền nhất chỉ thư…”

(Độc Tiểu Thanh kư)

Một ḿnh trước cửa sổ xót thương một trang sách.

(5)

"… Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như…"

(Độc Tiểu Thanh kư)

Không biết hơn ba trăm năm sau,

Thiên hạ ai người khóc Tố Như.

6)

Truyện Kiều được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm, và ngày nay mọi người đều thừa nhận truyện Kiều đă đạt đến đỉnh cao của tiếng Việt.

(7)

Từ lâu việc bói Kiều đă là một việc không c̣n xa lạ trong dân gian.

(8)

Chi phấn hữu thần lân tử hậu

(Độc Tiểu Thanh kư)

Son phấn (mà) linh thiêng nên sau khi chết vẫn (khiến người ta) thương tiếc.

(9)

Đối với Nguyễn Du, ông thừa biết quan niệm của người xưa: "lập thân tối hạ thị văn chương" cùng cái oan nghiệt ghê gớm của vần điệu phong lưu, nhưng ông vẫn tự ḿnh ở vào đó và ông đă đi vào bất tử.

 

 

 

2.

KIỀU VIẾNG MỘ

ĐẠM TIÊN

 

Trắng muốt hoa lê buổi xế tà

Chập chờn bóng nước chập chờn hoa

Nhịp cầu nho nhỏ mồ nho nhỏ (1)

Tơ liễu yêu kiều bóng thướt tha (2)

Khung cảnh cứ như là ảo ảnh

Tấm t́nh thoắt hiện cơi ḷng ta

Nấm đất (3) đă khô từ thuở trước

Lệ sầu ai tưới ngập hồn hoa (4)

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nao nao ḍng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh…"

(2)

"… Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha…"

(3) & (4)

"… Trải bao thỏ lặn ác tà

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm

Ḷng đâu sẵn mối thương tâm

Thoắt nghe Kiều đă đầm đầm châu sa…”

 

 

3.

MỘT LỜI LÀ MỘT VẬN VÀO KHÓ NGHE (1)

 

"Sè sè tưởng mộ Đạm Tiên

Ai ngờ cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây (2)

Thơ sao chua đến thế này

Vần thơ càng đọc càng cay mắt ḿnh

Cụ ơi! Sáu cơi vô minh

Ai ngờ chuyện cũ buộc thành dây oan

Bạc phần đâu chỉ hồng nhan

Đă trong "thập loại" c̣n toan được nào (3)

Dấu giầy in giấc chiêm bao

Đạm Tiên ảo ảnh cơn đau Thuư Kiều

Hồn Xuân, tơ liễu, bóng chiều

Dường như sương khói

dường nhiều mong manh

Người về khuất nẻo non xanh

Vó câu gơ nhịp trống đ́nh tim ai

Trông theo hun hút bóng người

Mênh mông nắng lụa vàng phai ráng chiều

Suối ghềnh nước vẫn trong veo

Mà trong sâu thẳm đă nhiều xót xa

Quạnh đời trầm tiếng Xuân ca

Hồn Xuân man mác bóng tà tà dương

Nỗi đau hoa rụng ven đường

Ai hay đă động vết thương cơi người

Đường về lả tả hoa rơi

Cành lê trắng tuyết đêm vời vợi Xuân

Chập chờn đôi ngả dương âm

Tỉnh mê mê tỉnh khóc thầm thương vay

Giọt t́nh mới nếm vừa say

Giọt thương giọt nhớ giọt đầy giọt vơi

Giọt trần gian, giọt cơi ngoài

Đoạn trường ai đă buộc ai nỗi buồn

"Vận vào" lời ấy Vương Quan

Hay là cụ Nguyễn –gió ngàn thương ai

Sóng trần bèo giạt hoa trôi

Đạm Tiên cơi mộng ngậm ngùi trang thơ

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Quan rằng chị nói hay sao

Một lời là một vận vào khó nghe…"

(2)

Hai câu thơ của nhà thơ Vương Trọng. Sinh thời, Chế Lan Viên rất thích hai câu này và cho rằng chỉ với hai câu thơ ấy Vương Trọng đă có thể góp mặt trên thi đàn Việt Nam.

(3)

Tập Kiều:

"C̣n chi là cái hồng nhan

Đă xong thân thế c̣n toan được nào"

 

 

4-

ĐÊM THÚY KIỀU

SANG NHÀ KIM TRỌNG

 

"… Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng…" (1)

Nguyễn Du đă bớt đi ánh sáng của vầng trăng

Và ngọn nến…

Ngọn nến đang lụi dần trên án sách

Đêm huyền ảo thẫn thờ,

Đêm hiu hắt mông mênh (2)

Đêm cuộc đời Kiều mở ra

trên từng trang giấy,

Trang giấy nhạt nḥa,

Trang giấy mong manh.

Như thoáng gặp nhau

rồi ngàn trùng xa cách (3),

T́nh yêu,

T́nh yêu như vết cắt,

Đau đáu một đời xanh…

Ngọn nến đă tàn rồi,

B́nh minh soi sự thật.

Kiều phải về nhà ḿnh chịu nạn

Cho nỗi đau thương

trần thế hiện nguyên h́nh

 

 

 

 

DẪN KIỀU

(1)

"… Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng

Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn…"

(Thơ giáo sư Lê Trí Viễn bài Đêm ấy đêm này)

(2)

"… Nhặt thưa trăng dọi đầu cành,

Ngọn đèn trông tỏ trướng huỳnh hắt hiu…"

(3)

"… Bây giờ rơ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao…"

 

5-

T̀NH cũng màu tang trắng

 

T́nh yêu vừa trao gửi

Tin nhà đă đến nơi

Liêu Dương xa vời vợi

T́nh yêu. T́nh yêu ơi

Vội gặp nhau ḥ hẹn

Chẳng đổi ḷng khi xa

Ba năm nào có ngắn (1)

Mối sầu dài thêm ra

Nghĩ buồn duyên tủi phận

Lại giận bấy ông tơ (2)

Sao đùa đau đến vậy

Hoa bướm cùng ngẩn ngơ

Trót cùng nhau gắn bó

Tóc thay chẳng đổi ḷng (3)

Màu t́nh yêu xanh măi

Một lời một thủy chung

Bịn rịn ḷng chẳng nỡ

Tay cứ hoài trong tay

Vầng hồng sao quái ác

Đứng nóc nhà tṛn xoay (4)

Lại dùng dằng đếm bước

Lại ngập ngừng loay hoay

Nói thế nào cho hết

Làm sao –làm sao đây?

Lời theo lời trân trọng

Lệ rơi mờ nẻo mây

Gánh sầu treo yên ngựa

Treo ngàn cân đôi vai (5)

Liêu Dương trời xa thẳm

Trắng xóa một màu tang

T́nh cũng màu tang trắng

Nỗi thương nhau –lệ tràn

Xót người đi ngàn dặm

Trong mưa dập gió vùi (6)

Ngày lại ngày thương nhớ

Chẳng khi nào nguôi ngoai

Người trông theo ngút mắt

Chín khúc quặn hồn đau

T́nh yêu, trời, mây, nước

Trôi đi đâu? Về đâu? (7)

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Ngoài ngàn dặm chốc ba đông

Mối sầu khi gỡ cho xong c̣n chầy…"

(2)

"… Ông tơ ghét bỏ chi nhau

Chưa vui sum họp đă sầu chia phôi…"

(3)

"… Cùng nhau trót đă nặng lời

Dẫu thay mái tóc dám dời ḷng tơ…"

(4)

"… Dùng dằng chẳng nỡ rời tay

Vừng đông đâu đă đứng ngay nóc nhà…"

(5)

"… Buộc yên quẩy gánh vội vàng

Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai…”

(6)

"… Năo người cữ gió tuần mưa

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày…"

(7)

"… Nàng c̣n đứng tựa hiên tây

Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ

Trông chừng khói ngất sông thưa

Hoa trôi giạt thắm liễu xơ xác vàng…"

 

 

 

6-

đen nhờ trắng

 

Những thằng bán tơ (1)

Và những gă đầu trâu mặt ngựa (2)

Đời nào chẳng có,

Chúng như cặp song sinh

Đen nhờ trắng

hiện h́nh

Tay nhám nhúa

Vung dây oan –dây oán (3)

Tanh tưởi máu dân lành

Tiếng Nguyễn Du kêu lên thảng thốt,

Kêu trời xanh

Và nguyền rủa ruồi xanh (4)

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Hỏi ra sau mới biết rằng

Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ…"

(2)

"… Người nách thước kẻ tay dao,

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…"

(3)

"… Rường cao rút ngược dây oan,

Dẫu là đá cũng nát gan lọ người…”

(4)

"… Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời giọt liễu, tan tành gối mai…"

 

 

7-

CÁI GIÁ TRUNG GIAN

 

Khi ngă giá với quan trên

ba trăm lạng vàng mười (1)

Không biết kẻ lại già họ Chung có được

vài lạng hoa hồng nhỏ nhoi không nhỉ?

Nếu quả thật có chuyện đáng buồn như thế!

Duyên chàng Vương

chẳng hóa mối duyên xoàng!

T́nh tiết ấy thật âm u

Chưa một thuở rơ ràng

Mà cái giá trung gian

Lại vốn là như thế

Dấu chấm Nguyễn Du khuyên (2)

Cứ lửng lơ

Mặc mọi người suy nghĩ

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Tính bài lót đó luồn đây

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi…"

(2)

Theo "Thúy Kiều tường chú", tác giả Chiêm Vân thị (Trúc Viên Lê Mạnh Liêu dịch), trích nguyên bản Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân th́ "Chung Sự vi tống quan nhất bách lượng, tống hướng mă, h́nh pḥng, công sai; tam bối các ngũ thập lượng".

Chung Sự (tên đầy đủ của họ Chung) nhận của nhà họ Vương ba trăm lượng; nay theo nguyên bản: "y biếu quan 100 lượng, bọn cướp, h́nh pḥng, công sai, mỗi nơi 50 lượng, tổng cộng 250 lượng" vậy c̣n 50 lượng không biết y đưa cho ai (Trúc Viên). Thúy Kiều bán ḿnh trên bốn trăm lượng vàng, lo lót hết ba trăm lượng, số vàng c̣n lại trên một trăm lượng, vậy mà chỉ sáu tháng sau khi chàng Kim: "Từ ngày muôn dặm phù tang / Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà" th́ gia đ́nh Kiều đă hoàn toàn sa sút.

Cho dù như nguyên lục, đó chỉ là hơn một trăm lượng bạc đi nữa th́ với một gia đ́nh nền nếp như gia đ́nh Vương viên ngoại, lại vừa trải qua một tai biến kinh hoàng, không thể nào có thể tiêu pha hết được. Như vậy ta có thể đoán rằng, hơn trăm lượng vàng ấy cũng chỉ dùng lo lót biếu xén hết.

Ngoài 50 lượng do họ Chung kê thêm lên cho ḿnh như đă nói ở trên, số vàng đền công chính thức cho họ Chung và đám sai nha, cho công làm trung gian của "mụ mối gần miền" chắc cũng không nhỏ.

Lại thêm có mật th́ ruồi kéo nhau bu lại tên này chỉ đường mách nước cho tên khác như ta thường thấy ở bọn sai nha và bọn vô lại trong bất cứ xă hội nào, nên số tiền hơn một trăm lượng vàng mới có thể tiêu tan mau đến thế.

Có lẽ chính ở chỗ này Nguyễn Du muốn để một dấu chấm lửng cho người sau mặc t́nh suy nghĩ về xă hội cung Vua, phủ Chúa hỗn loạn và đầy bất công thối nát mà ông được chứng kiến chăng?

Và chữ "kẻ" trong "Họ Chung có kẻ lại già" có phải cũng mang một chút ẩn ư coi thường nào đó của Nguyễn Du đối với họ Chung.

(3)

"…Chàng Vương nhớ đến xa gần

Sang nhà Chung lăo tạ ân chu tuyền

T́nh xưa ân trả nghĩa đền

Gia thân mới lại kết duyên Châu Trần…"

 

 

 

 

8-

c̣n nỗi đau nào

 

Khi mụ mối vén tóc, bắt tay định giá

Thuư Kiều (1)

Liệu có nỗi đau nào hơn

nỗi đau bán ḿnh không nhỉ

Giá dẫu đến ngàn vàng hay là hơn thế

Nỗi đau này hồ dễ mấy ai quên

Dưới ng̣i bút Nguyễn Du,

Bọn buôn người lần lượt hiện lên,

Từ Mă Giám Sinh đến mụ mối gần miền (2)

Một lũ tớ thầy

sành sỏi

trơ ĺ

vô duyên

trâng tráo

Bức tranh vẽ,

Nét sỗ sàng táo bạo

Như gửi lại đời sau những vệt máu bầm rơi

Gửi lại con tim trăn trở giữa đời

Khóc mướn

Thương vay

Mặt dầy nỗi thẹn

Bọn buôn gái vẫn nhởn nhơ

Ngồi ghế trên (3)

sỗ sàng,

trơ trẽn

Cười nói thỏa thuê

Buôn bán số phận người

Những thân phận Thúy Kiều

Trận mưa dầm,

cơn gió bấc

bầm dập tả tơi

Kẻ sĩ xuôi tay (4)

Hiền giả ẩn rồi

C̣n nỗi đau nào hơn nỗi đau ấy

Nguyễn Du ơi.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Mối càng vén tóc bắt tay

Nét buồn như cúc ḿnh gầy như mai…"

(2)

"… Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách t́m vào vấn danh…"

(3)

"… Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Buồng trong mối đă giục nàng kíp ra…"

(4)

"… Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên…"

(Thơ chữ Hán của Nguyễn Du)

Tạm dịch:

Tráng sĩ đầu bạc buồn bă ngước nh́n trời.

Nỗi buồn về chí lớn (không thi hành được) và nỗi lo kiếm sống không c̣n biết ra sao nữa.

 

 

 

9.

C̣n Em

Một Tấm Ḷng Xanh

 

"… Trời Liêu non nước bao xa

Biết đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi…" (1)

Vết thương máu rỉ hồng tươi

Khóc than giọt ngắn giọt dài nỗi đau

Đèn chong soi nửa mái đầu

Soi nghiêng mái tóc, nghiêng sầu,

nghiêng đêm

Ngỡ ngàng t́nh chị duyên em

Lỡ làng lời hẹn con tim lịm rồi

Mai sau c̣n có hay thôi

Mai sau ai nhớ một người đă xa

Hiu hiu cơn gió hiên nhà (2)

Chỉ là hư ảo, chỉ là mộng thôi

Chị về chốn cũ chao ơi

Chén quỳnh sóng sánh ngậm ngùi sương tan

Bể t́nh ai lựa dây oan

Để cho tim chị nát tan dường này

Duyên t́nh v́ chị em thay

Trả cho chàng chút bén dây tơ ḷng

Vật này, duyên ấy, của chung (3)

Gửi em, gửi cả trăm ḍng lệ rơi

Mai sau hoen lệ gượng cười

Của xưa giở lại –thơm hơi cuộc t́nh (4)

Chị về sáu cơi mông mênh

Tấm ḷng em –bát ngát xanh –vẫn c̣n

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

(Thơ Kiều)

(2)

"… Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió th́ hay chị về…"

(3)

"… Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này th́ giữ, vật này của chung…"

(4)

"… Mai sau dù có bao giờ

Đốt ḷ hương ấy, so tơ phím này…"

 

 

 

10.

lũ tú ông

"… Rằng hay th́ thực là hay (1)

Nho đối với xỏ lăo này đếch ưa…” (2)

Giọng Nguyễn Khuyến nhẩn nha

Mà tận cùng khinh miệt

Những gă đàn ông

bảnh bao chải chuốt (3)

Xênh xang giữa chợ buôn người

Lũ tú ông

cổ điển

tân thời

Tuồng chi một giống tanh hôi (4)

Tiếng khóc Thúy Kiều bi thương căm giận

Vết đau dơ (5)

Thành vết chém ngang người

Chân bước hụt mất rồi

Thăm thẳm cuộc đời rơi

Và thăm thẳm

Mảnh t́nh rơi.

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

Thơ Nguyễn Khuyến b́nh hai câu thơ vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh:

"… Làng Nho người cũng coi ra vẻ

Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay…"

(3)

Nguyễn Du tả Mă Giám Sinh:

"… Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao…"

Tả Sở Khanh:

"… Một chàng vừa trạc thanh xuân

H́nh dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng…"

(4)

"… Tuồng chi là giống hôi tanh

Thân ngàn vàng để ô danh má hồng…”

 

 

11.

thương hiệu tú bà

Khi Tú Bà chửi Mă Giám Sinh:

"… Tuồng vô sỉ ở bất nhân…" (1)

Không hiểu trong thâm tâm

Tú Bà có nh́n lại ḿnh không nhỉ?

Hăy tưởng tượng,

Nếu quả có một lần như thế,

Th́ Nguyễn Du đâu có thể khóc thương Kiều

Và sẽ chẳng có dịp nào

Thấy Tú Bà dục hoăn cầu mưu

Để dùng thế đà đao (2)

đưa Thúy Kiều vào rọ

Chỉ với một gă bảo kê hạng xoàng họ Sở

Cũng đủ cho con chim xanh

chết dở ở trong lồng

Lưỡi dao con giờ thành lưỡi dao cùn (3)

Chẳng bao giờ Thuư Kiều c̣n dám giở ra

để liệu với thân lần nữa (4)

Thương hiệu "Tú Bà"

cũng chẳng trở thành có giá

Để ngàn sau đeo cho những ả buôn người

Cái xảo trá lọc lừa

Mấy trăm năm th́ vẫn thế

Nguyễn Du ơi!

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Tuồng vô sỉ ở bất nhân

Buồn t́nh trước đă tần mần thử chơi…"

(2)

"… Đà đao sắp sẵn chước dùng

Lạ ǵ một cốt một đồng xưa nay…”

(3)

"… Trên yên sẵn có con dao

Giấu cầm nàng đă gói vào chéo khăn…”

(4)

"… Pḥng khi nước đă đến chân

Dao này th́ liệu với thân sau này…"

(5)

" lần nữa"

Thúy Kiều đă: "… Sẵn dao tay áo tức th́ giở ra…", dùng dao tự sát khi mới tới động của Tú Bà, bị Tú Bà toan hành hung và cũng chỉ một lần duy nhất ấy.

 

 

 

12-

đoạn trường thăm thẳm

một ḍng xuôi

 

Thúy Kiều sau cú lừa thế kỷ (1)

Đành đặt ḿnh trong cái vốn

của phường buôn (2)

Thân ngàn vàng đem chuộc một trận đ̣n (3)

Cho tiếng khóc măi ngàn sau c̣n tấm tức

Bài học vỡ ḷng (4)

Lẫn tiếng đàn đưa ma cuộc đời Kiều réo rắt

Thấp thoáng đèn mờ,

Thấp thoáng lầu xanh (5)

Thấp thoáng bóng Kiều

Chập choạng đêm thanh (6)

Đưa cửa trước,

Rước cửa sau (7)

Vành bảy chữ (8)

Vành tám nghề (9)

Tṛn xoay,

xoay măi

 

Mặt dày dạn (10)

Mấy phong trần ch́m nổi

Xót thương ḿnh đứt ruột mối t́nh si

Chợ đă cấm,

Sông đă ngăn

Mờ mịt lối đi, về

Và nỗi nhớ,

trời ơi

là nỗi nhớ.

Đ̣i đoạn ṿ tơ (11)

Song sa ṿ vơ (12)

Tháng lụn

Ngày qua (13)

Sóng vỗ

Bèo trôi.

Bổi hổi

Bồi hồi,

Mặt nước

chân mây,

cánh bèo,

ngọn gió.

Đoạn trường thăm thẳm một ḍng xuôi. (14)

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Thôi đà mắc lận th́ thôi

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh.

Bạc t́nh nổi tiếng lầu xanh

Một tay chôn biết bao cành phù dung…"

(2) & (3)

"… Nhưng tôi có sá chi tôi

Phận tôi đành vậy vốn người để đâu

Thân lươn bao quản lấm đầu

Chút ḷng trinh bạch từ sau xin chừa…"

(4)

"… Xót ḿnh cửa các buồng khuê

Vỡ ḷng học lấy những nghề nghiệp hay…"

(5)

"… Lầu xanh mới rủ trướng đào

Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người…"

 

 

(6)

"… Dập d́u lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc tối t́m Tràng Khanh

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật ḿnh ḿnh lại thương ḿnh xót xa…"

(7)

"… Tin nhạn vắng, lá thư bài

Đưa người cửa trước rước người cửa sau…”

(8) & (9)

"… Này con thuộc lấy làm ḷng

Vành ngoài bẩy chữ vành trong tám nghề…"

(10)

"… Khéo là mặt dạn mày dày

Kiếp người đă đến thế này th́ thôi…"

(11) & (12) & (13)

"… Mối t́nh đ̣i đoạn ṿ tơ

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài

Song sa ṿ vơ phương trời

Nay hoàng hôn đă lại mai hôn hoàng…"

(14)

"… Lần lần thỏ bạc ác vàng

Xót người trong hội đoạn trường đ̣i cơn…"

 

13-

lại vẫn giọt mưa khuya

 

Như các công tử con cái gia đ́nh quyền quư

trong thời đại chúng ta

Tiêu tiền bằng vé (1)

Thúc Sinh cũng ném tiền qua cửa sổ (2)

Để mua lấy những cuộc t́nh trăng gió

Của các cô nàng

móng đỏ

mắt xanh

Này bèo dạt

Nọ hoa trôi

Con nước ṛng cạn kiệt,

Con nước lớn mông mênh

Cũng có lúc bến t́nh mong ghé lại

Cảnh Kiều tắm (3)

ới giời ơi

có phải

Là đong đưa

là ch́m nổi

với nghề không

Cái nghề xưa

Nghe nói đă thẹn thùng

Mà nay đă quen chừng đấy hẳn

Hay chỉ muốn

Một lần thôi

cùng ai đeo đẳng

Để cùng ai thoát hẳn vũng bùn nhơ

Đă sợ lắm rồi

Thân nhện vương tơ (4)

Cái ổ nhện tṛn xoe,

cứ từng ṿng,

quay tít

Thà nép dưới sân hoa,

Chịu lôi đ́nh sấm sét (5)

Để một bề giă biệt chốn lầu xanh (6)

Cũng khen ai,

gan gắng gỏi với t́nh

Để hoa bút, (7)

chạnh ḷng ai,

xót thương ḿnh lỡ dở

Mặt sắt cũng mềm ḷng

Hoa lại về bến đỗ (8)

Có nên khen chàng Thúc một lời không

Chàng quư tử yêu hoa

đâu thiếu nét một ông trùm!

Cũng thuê mướn bảo kê (9)

Tụ tập đám du côn (10)

Đánh một bước

Tú Bà lui một bước (11)

Nhưng có lẽ bóng ô dù của ngài Tể tướng (12)

Che trên đầu chàng con rể yêu hoa

Mới đủ uy

khiến Mă, Sở, Tú Bà,

Chịu lép vế

thua cơ

tiễn Kiều ra khỏi cửa

Cái b́nh giấm Hoạn Thư,

hỡi ơi,

thế th́ chua quá cỡ.

Thành lọ cường toan (13) săn chốn ở đường về

Thân phận Kiều

Lại vẫn giọt mưa khuya

Rơi xuống giếng

Rơi vườn hoa (14)

Rơi vào đâu

Ai biết?!

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

1 vé = 100 USD

(2)

"… Thúc Sinh quen thói bốc rời

Trăm ngh́n đổ một trận cười như không…”

(3)

"… Buồng the phải buổi thong dong

Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa

Rơ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một ṭa thiên nhiên

Sinh càng tỏ nét càng khen…"

(4) & (5) & (6)

"… Nàng rằng đă quyết một bề

Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần

Đục trong thân cũng là thân

Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đ́nh…"

(7)

"… Nàng vâng cất bút tay đề

Tiên hoa tŕnh trước án phê xem tường…"

(8)

"… Huệ lan thơm nức một nhà

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa…"

(9) & (10) & (11)

"… Chiến ḥa sắp sẵn hai bài

Mượn tay thầy thợ, kiếm người ḍ la

Bắn tin đến mặt Tú Bà

Thua cơ mụ cũng cầu ḥa dám đâu…”

(12)

Khi Kiều bị bắt đưa về nhà cha mẹ Hoạn Thư: "… Ngước trông ṭa rộng dẫy dài,

Thiên quan Chủng tể có bài treo trên…"

Thiên quan trong Chu lễ là chức quan coi bộ Lại bây giờ, Chủng tể là Tể tướng. Như vậy cha Hoạn Thư là Thượng thư giữ chức Tể tướng.

(13)

Chất cường toan: tên gọi khác của acide

(14)

"… Thân em như giọt mưa rào,

Giọt rơi xuống giếng, giọt vào vườn hoa…"

(Ca dao)

 

14-

đen lẩn vào trong trắng

 

Đêm và ngày,

Đen và trắng

Tưởng chẳng bao giờ có thể lẩn vào nhau

Nếu cuộc sống luôn rạch ṛi như thế

Th́ đời đâu có nỗi đau

Khi cơn ghen đă bốc lửa lên đầu

Hoạn Thư cũng không thể giữ ḿnh

ngồi cao được nữa

Cũng phải gặp bọn khuyển ưng (1)

Cũng bày tṛ đâm heo, thuốc chó

Bắt cóc (2)

Đốt nhà (3)

Giở đủ tṛ quỷ quái tinh ma (4)

Con quỷ xă hội đen

Bỗng tru lên từng hồi,

điêu toa,

hắc ám.

Đen lẩn vào trong trắng

Màu trắng biến h́nh

Màu trắng lọ lem

Ngày và đêm đan xen

Và quan bà Tể tướng (5)

Cũng vội khoác cho ḿnh chiếc áo màu đen

Gơ trống

Khua chiêng

Giục giă con ḿnh ra trận (6)

Để bắt đầu

màn kịch

Hoạn Thư ghen.

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Sửa sang buồm gió lèo mây

Khuyển Ưng lại chọn một bầy côn quang

Dặn ḍ đủ hết mọi đàng

Thuận phong một lá vượt sang bến Tề…"

(2) & (3) & (4)

"… Thuốc mê đâu đă tưới vào

Mơ màng như giấc chiêm bao biết ǵ

Vực ngay lên ngựa tức th́

Pḥng đào viện sách bốn bề lửa dong

Sẵn thây vô chủ ven sông

Đem vào để đó lộn ṣng ai hay…"

(5) & (6)

"… Phu nhân khen chước rất màu

Chiều con lại dạy mặc dầu ra tay…"

 

 

 

15-

những mảng đen

 

Thói bênh con của các quan ông quan bà

Thời đại nào chẳng có

Chúng như từ một cửa sinh ra

Bà Thượng thư bỗng chốc hóa quan ṭa (1)

Mặc sức với Thuư Kiều

ra oai

tác phúc

Quan Thượng thư đứng khoanh tay

như người ngoài cuộc

Lặng lẽ đứng nh́n

Có lẽ Nguyễn Du cũng chẳng dám tin

Xă hội ông có những mảng đen

nặng nề đến thế (1)

Nhưng cuộc sống vốn là những điều có thể

Nên dinh quan thành vị trí mở phiên ṭa (2)

Bị cáo Thúy Kiều,

Sau trận đ̣n nát ngọc nhàu hoa (3)

Thêm án phạt

Làm nô t́ cho quan bà trọn kiếp (4)

Cái ghen của Hoạn Thư,

Chỉ mới bắt đầu thôi

Mà đùng đùng sấm sét

Đất cũng tối tăm

mờ mịt

hoang mang

Thúy Kiều đau thương

thổn thức

bàng hoàng

Đường địa ngục,

Nẻo thiên đàng (5)

Biết lối nào đi tới

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Nguyễn Du sinh năm 1765. Theo sử liệu c̣n giữ được th́ từ nhỏ ông sống ở kinh thành Thăng Long với cha và rồi với anh, đều làm quan to triều Lê Trịnh, ít ra tới năm 1784, năm Tham tụng Nguyễn Khải (Việt Nam Sử Lược cuả Trần Trọng Kim chép là Ly, cũng có sách chép là Lệ), anh ông, bị đám kiêu binh Thanh, Nghệ phá nhà t́m giết phải chạy trốn lên Sơn Tây, ông mới rời khỏi nơi này.

Năm trước đó, năm 1783, Nguyễn Du 18 tuổi, ông đậu tam trường khoa thi Hương.

Sử liệu không cho biết v́ sao ông không học và thi lên cao nữa. Chắc chắn những biến động và hỗn loạn ở kinh thành lúc ấy, sự lộng hành của Đặng Mậu Lân (em trai Tuyên phi Đặng Thị Huệ) và băng đảng, đến Chúa, Lân cũng chẳng coi ra ǵ : "Lân nổi giận đùng đùng mà rằng :"À! Mày định đem Chúa ra dọa tao phỏng? Chúa là cái quái ǵ!" (Hoàng Lê Nhất Thống Chí), và sau đó là loạn kiêu binh với những tác oai, tác quái của đám kiêu binh Thanh Nghệ làm náo loạn cả kinh thành, được ghi lại rất nhiều trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Th́ Chí, đă trở thành những mảng đen xă hội nặng nề trong suy nghĩ của Nguyễn Du, khiến ông cảm thấy chán nản mà không thi cử ǵ thêm nữa.

(2)

"… Ngước trông ṭa rộng dẫy dài

Thiên quan Chủng tể có bài treo trên

Ban ngày sáp thắp hai bên

Trên giường thất bửu ngồi trên một bà

Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra

Sự ḿnh nàng phải cứ mà thưa lên…"

(3)

"… Trúc côn ra sức đập vào

Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh…"

(4)

"… Hoa nô truyền dạy đổi tên

Buồng thêu dạy sắp vào phiên thị t́…"

(5)

"… Vâng lời nàng mới theo sang,

Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu…”

 

16-

ĐÂU CHỈ CÓ HAI NGƯỜI

 

Như một người mang tuyệt kỹ cửu âm công

Đ̣n đánh ra nhu hiểm lạnh lùng

Gương mặt…

tiếng cười…

lạt lẽo

Hoạn Thư ơi!

Ngay khi quất những roi đ̣n

trên những nỗi hờn ghen

Nàng vẫn vô cùng cao xa kênh kiệu

Vẫn mực thước đoan trang

như khi dạy bảo lũ tôi đ̣i

Chiếu tiệc đèn hoa

B́nh the tấu nhạc (1)

Ai cười đau (2)

Ai khóc hận (3)

Ai thấp trí thua cơ (4)

Ai quay quắt nỗi ngậm ngùi

Ai uống rượu mừng

Ai mời ai rượu phạt (5)

Ai chẳng dám quen ai (6)

Buổi tiệc vẫn êm đềm

Mặt nước lặng yên,

Nỗi đau ngầm bỏng rát

Trái tim đau,

Trái tim đau,

Đâu chỉ có hai người.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Tâm sự Kiều khi phải gẩy đàn cho Hoạn Thư và Thúc Sinh nghe:

"… Nàng đà tán hoán tê mê

Vâng lời ra trước b́nh the văn đàn..".

(2)

Tâm sự Hoạn Thư:

"… Ḷng riêng khấp khởi mừng thầm

Vui này đă bơ đau ngầm xưa nay…”

Tâm sự Kiều và Thúc Sinh:

"… Bốn dây như khóc như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát ḷng..".

(3) & (4)

Thúc Sinh sợ vợ:

"… Thấp cơ thua trí đàn bà

Trông vào đau ruột nói ra ngại lời..”.

(5)

"… Tiểu thư lại thét con Hoa

Khuyên chàng chẳng cạn th́ ta có đ̣n…"

(6)

"… Sợ quen dám ngỏ ra lời

Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa…"

 

 

 

17-

NỐT NHẠC THẦM

 

Khi Thúy Kiều ôm chuông vàng khánh bạc (1)

Trốn khỏi nhà Hoạn Thư

Th́ chút nghĩa đèo ḅng (2)

mong thoát khỏi vũng bùn nhơ

Đă không thể đèo nhau đi xa hơn được nữa

Thúy Kiều ơi

Dẫu luồn xuống mái nhà (3)

Mà t́nh yêu Thúc Sinh chẳng đủ

Th́ làm sao!

Làm sao!

chẳng phải bỏ ra đi!

Hoạn Thư ơi!

 

Với vẻ đoan trang

mực thước

lạnh lẽo

kiêu kỳ

Nàng đă giết chết một Thúy Kiều

nhục nhă

bẽ bàng

thơ ngây

tan nát

Trong cái thua đau

Kiều có cả nỗi đau đời thua thiệt

V́ ai !?…

V́ ai !?…

Mà thua chị kém em

Muốn trở lại cuộc đời thường

Đường sao quá chông chênh

Đất khách một ḿnh (4)

Cuộc vạn lư trường chinh

xa tít tắp

Ơi cái nốt nhạc thầm

chuông vàng khánh bạc

Sao mà đau quái ác

Đau suốt cuộc đời Kiều

Đau suốt cả trăm năm.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nghĩ đi nghĩ lại quanh co

Phật tiền sẵn có mấy đồ kim ngân

Bên ḿnh giắt để hộ thân…”

(2)

"… Đôi ta chút nghĩa đèo ḅng

Đến nhà trước liệu nói ṣng cho minh.."

(3)

"… Cúi đầu luồn xuống mái nhà

Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng…"

(4)

"… Chỉn e đất khách một ḿnh

Chim khôn chưa dễ t́m vành ấm no…"

18-

CĂN BỆNH

MẤY NGÀN NĂM

Như những gă chồng vờ Malaysia, Đài Loan,

Trung Quốc…

Mua vợ kinh doanh

Lời khấn nguyền của Bạc Hạnh

trước lúc thành thân

Cũng chỉ để xin xỏ vận may

nơi thần mày trắng (1)

Thúy Kiều ơi,

Non nước xa khơi,

Châu Thai buồm thuận (2)

Nước lại vẩn bùn (3)

Thân vẫn nhọ nhem

Tṛ buôn người của đám xă hội đen

Thời đại nào chẳng một vốn mười lời (4)

kiếm tiền như nước

Thân gái dặm trường

Sa cơ lỡ bước

Gởi vào đâu được cuộc đời xuân

Lầu xanh (5)

Lầu xanh

Con tḥ ḷ sáu mặt vây quanh

Mua bán, dập vùi nhan sắc

Lầu xanh

Lầu xanh

Thị dục loài người

Căn bệnh mấy ngàn năm

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng

Quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công…"

(2)

"… Thành thân mới rước xuống thuyền

Thuận buồm một lá xuôi miền Châu Thai…"

(3)

"… Tiếc thay nước đă đánh phèn

Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần…"

(4)

"… Xem người định giá vừa rồi

Món hàng một đă ra mười th́ buông…"

(5)

"… Đưa nàng vào lạy gia đường

Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh…"

 

 

19 -

CÁI GẬT ĐẦU TRI KỶ

 

Châu Thai

Châu Thai

Chốn ấy lầu xanh hai lần mắc bẫy (1)

Nợ cũ gỡ ra rồi

Nợ mới ấy ai trao

Sao đào hoa nằm ở cung nào (2)

Cứ gỡ ra lại buộc vào mấy đận (3)

Đă phải liều má phấn (4)

Ngày xanh rồi tàn phai (5)

Nên ḷng ai nguội lạnh

Ai nào dám khinh ai

Tấm can tràng son sắt (6)

Gửi vào đâu thân phận cánh hoa rơi (7)

Tiếng kể Thúy Kiều đau thương bằn bặt

Nợ non sông bỗng nặng gánh –

những con người

Từ chỉ gật đầu thôi

Cái gật đầu tri kỷ (8)

Mà chân tơ kẽ tóc hiểu nhau rồi

Châu Thai

Châu Thai

Phúc họa lẽ nào là một cặp sinh đôi?

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Mới trông nàng đă biết t́nh

Chim lồng khôn lẽ cất ḿnh bay cao…"

(2) & (3)

"… Chém cha cái số hoa đào

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi…"

(4) & (5)

"… Biết thân chạy chẳng khỏi trời

Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh…"

(6) & (7)

"… Chút riêng chọn đá thử vàng

Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu…”

(8)

"… Nghe lời vừa ư gật đầu,

Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người…"

 

 

 

 

20-

SAO VẪN M̉N MỎI ĐỢI

 

Đến chẳng phải t́nh cờ

Đi hẳn có nguyên do

Phút động ḷng bốn phương

của kẻ trượng phu (1)

Đâu chỉ mải mê chuyện giang hồ sóng gió

Cũng chẳng v́ áo cơm nặng nợ

Mà non sông quang gánh nọ chưa tṛn (2)

Cánh chim bằng mượn cơn gió Lăo Trang (3)

Bay tới chín tầng trời cao mút mắt

Cửa đă đóng lại rồi

Then mây cài đă nhặt (4)

Nỗi nhớ nhà vẫn hiu hắt khôn khuây (5)

Nhớ cánh chim hồng vẫn mịt mù bay (6)

Con mắt đăm đăm

Nghĩ ǵ đây Kiều hỡi

Đă tâm phúc tương tri

Sao vẫn ṃn mỏi đợi

Đợi kẻ t́nh si

Hay đợi cuộc đổi đời

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đă động ḷng bốn phương…"

(2)

"… Giang hồ quen thú vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo…"

(3)

"… Quyết lời dứt áo ra đi

Gió đưa bằng tiện đă ĺa dặm khơi…"

(4)

"… Nàng từ chiếc bóng song mai

Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây…"

(5)

"… Đoái trông muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa…"

(6)

"… Cánh hồng bay bổng tuyệt vời

Đă ṃn con mắt phương trời đăm đăm…”

 

 

21-

VẪN NỤ CƯỜI XƯA

 

Từ trở về có đúng lời ước hẹn

Một năm chầy (1)

Một điểm đến…

Châu Thai

Nhưng chậm hay mau th́ cũng tốt mà thôi

Cũng mát mặt một mảnh đời ch́m nổi

Hăy thử nghĩ

Nếu Từ không trở lại

Th́ nỗi bẽ bàng Kiều biết gởi vào đâu

Nên nỗi mong chờ

không lay chuyển giữa binh đao

Là nỗi nhớ

nỗi chờ nhau

rất thật (2)

Thúy Kiều ơi

Với lễ rước chầu vu quy trang trọng nhất (3)

(Những lễ nghi quân cách khác lệ thường)

Th́ Từ công đă thật dạ quư yêu nàng

Say đắm,

vỗ về,

ân cần,

che chở

Nụ cười dưới chân thành (4)

Vẫn chẳng khác nụ cười

chốn Châu Thai ngày cũ (5)

Vẫn sang sảng trượng phu,

cởi mở,

chân t́nh

Liệu đă đến bến bờ chưa,

Hỡi cánh bèo nhiều trôi giạt lênh đênh?

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Đành ḷng chờ đó ít lâu

Chầy ra là một năm sau vội ǵ…"

(2)

"… Nàng rằng trước đă hẹn lời

Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa…"

(3)

"… Giáp binh kéo đến quanh nhà

Đồng thanh cùng gửi nào là phu nhân

Hai bên mười vị tướng quân

Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu…

Cung nga thể nữ nối sau

Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy

Sẵn sàng phượng liễn, loan nghi

Hoa quan phấp phới hà y rỡ ràng

Kéo cờ, ruổi trống, lên đường

Trúc tơ đi trước kiệu vàng nối sau

Hỏa bài tiền lộ ruổi mau

Nam đ́nh nghe động trống chầu đại doanh

Kéo cờ luỹ phát súng thành

Từ công lên ngựa thân nghinh cửa ngoài…"

(4)

"… – Cười rằng cá nước duyên ưa

Nhớ lời nói những bao giờ hay không?

– Nh́n nhau trông mặt cả cười

Dang tay về chốn trướng mai tự t́nh…"

(5)

"… Nghe lời vừa ư gật đầu

Cười rằng tri kỉ trước sau mấy người…"

 

22-

MỚI CHỈ RẤT

TƯỢNG TRƯNG

 

Khi đen và trắng

Chẳng c̣n lẩn được vào nhau

Khi bóng đêm chẳng c̣n ngự trị

B́nh minh lên,

trong sáng sạch làu

Th́ Bạc Hạnh, Bạc Bà

Cùng Mă, Sở, Tú Bà, Ưng, Khuyển (1)

Tránh sao được chuyện…

rơi đầu

Việc ấy lẽ thường

Có ǵ đâu bàn căi

Nhưng Thúy Kiều với mười năm ch́m nổi (2)

Mười năm trời mang bao nỗi truân chuyên

Lăn lóc đọa đày trong đám xă hội đen

Đâu chỉ một Thúy Kiều lầm thân tan nát

Đâu chỉ một vài đường dây tội ác

Cỡ Bạc Hạnh,

Tú bà.

C̣n biết bao đường dây tàn độc ranh ma

Len lỏi luồn đi

suốt đêm ngày

Trói chặt tay người

phồng da

ứ máu

Đánh lộn ṣng tốt xấu

Nối vào nhau

tầng thấp,

tầng cao.

Từ lũ bất lương đến các quan lớn trong triều

Cùng một duộc

Lẩn vào nhau

Lương tâm tiêu điều u ám

Đen trắng thay h́nh đổi dạng

Ác nhân chạm áo đầy đường (3)

Nên Nguyễn Du ơi

Những kẻ bị hành h́nh

Mới chỉ rất tượng trưng

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà

Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh

Tú Bà với Mă Giám sinh

Các tên tội ấy đáng t́nh c̣n sao…"

(2)

Kiều lưu lạc mười lăm năm:

"… Từ con lưu lạc quê người

Bèo trôi sóng vỗ chốc mưới lăm năm…”

Trong mười lăm năm ấy nàng sống với Từ Hải năm năm:

"… Dưới cờ ai dám tranh cường

Năm năm hùng cứ một phương hải tần..."

Như vậy nàng lăn lóc cuộc đời trong đám xă hội đen vừa đúng mười năm.

(3)

Thời Đông Chu có câu :''ra đường đụng tay áo bọn Vu nghiễn (bọn bói toán)" để mô tả lực lượng đông đảo của thầy bói, thầy tướng thời ấy.

Thời Lê Trịnh, kinh thành luôn náo động v́ sự lộng hành của băng đảng Đặng Mậu Lân rồi sau đó là loạn kiêu binh Thanh Nghệ, ngang ngược đến nỗi: “Chúa cũng hoảng sợ không dám ho he ǵ nữa" (Hoàng Lê Nhất Thống Chí), nên chúng ta cũng có thể cho rằng dân chúng thời ấy ra đường chạm tay áo những kẻ thủ ác.

 

 

 

23-

CƠN ĐAU MĂI ĐẾN

BÂY GIỜ CHỬA THÔI

 

Thoắt trông nàng đă chào thưa (1)

Mà cơn đau đến bây giờ chửa thôi

Lời nghe mực thước nước đời

Cũng như thuở ấy một bài –khác đâu

Miếng môi xin trả lại nhau

Đoan trang kênh kiệu –cũng màu ấy thôi

Tiểu thư ơi – tiểu thư ơi

V́ sao mà phải đáo nơi tụng đ́nh (2)

Mưu thâm chuốc họa rành rành

Mà sao ḷng chẳng nỡ đành xuống tay

Lời kêu ca lại đến hay

Nào Quan Âm Các, ngày ngày viết kinh (3)

Nào khi chàng Thúc một ḿnh

Lẻn sang với các, với t́nh một phen

Ngoại t́nh sự đă quả nhiên

Mà ai nỡ một lời phiền đến ai

Nào khi cao chạy xa bay (4)

Ai đâu mà nỡ… dồn ai chân tường

Vả chăng hai chữ ghè tương (5)

Đàn bà ai cũng một tuồng ấy thôi (6)

Bây giờ sự đă lỡ rồi (7)

Liệu trông chút lượng bể trời nào chăng? (8)

Khen cho thực đă nên rằng (9)

Chưa tha mà đă cầm bằng rằng tha

Đoan trang mực thước cao xa

Rơ là kẻ cả –rơ là bề trên (10)

Thôi th́ phải giữ lấy nền

Tha là tha cả nỗi niềm riêng thôi

Thúy Kiều ơi –Thúy-Kiều ơi

Gặp nhau là đă tha rồi c̣n đâu

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Thoắt trông nàng đă chào thưa

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây…”

(2)

Ngạn ngữ có câu: "Vô phúc đáo tụng đ́nh", nghĩa là: không có phước mới phải đến chỗ kiện cáo, nơi ṭa án.

(3) & (4)

"… Nghĩ cho khi các viết kinh

Với khi khỏi cửa dứt t́nh chẳng theo…"

(5) & (6)

"… Rằng tôi chút dạ đàn bà

Ghen tuông th́ cũng người ta thường t́nh…"

(7) & (8)

"… Chót ḷng gây việc chông gai

Rộng xin lượng cả thương bài nào chăng?...”

(9) & (10)

"… Khen cho thực đă nên rằng,

Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời…”

 

 

24-

QUẢ LỪA TRÚNG ĐẬM

 

Tổng đốc khen thay mấy món lừa

Thúy Kiều phận mỏng một cành tơ

Phải chăng hám của thành cơ sự (1)

Chẳng lẽ lời ngon đến nỗi ư? (2)

Mười lăm năm lẻ đời luân lạc (3)

Bảy nổi ba ch́m chẵn ngất ngư

Chỉ muốn về thôi nên đến nỗi (4)

Quả lừa trúng đậm giận c̣n nư.

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

"… Nàng th́ thật dạ tin người

Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu…"

(3)

"… Từ con lưu lạc quê người

Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm…”

(4)

"… Công tư vẹn cả đôi bề

Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương

Cũng ngôi mệnh phụ đường đường

Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha…"

 

 

25-

TA NGĂ VÀO THƠ VĂN

 

Khéo thay bút lực Nguyễn Du

Cái chết của Từ như tạc vào văn học

Cái chết mẫu của cuộc đời (1)

Nỗi đau mấy trăm năm

C̣n đọng ở bờ môi

Vị mặn chát vẫn cay chót lưỡi

Duyên đang mặn

T́nh đang nồng (2)

Hoa vừa tươi trở lại

Bỗng chốc hóa thành không

Người đứng như trời trồng

Người muốn chui vào đất

Thấy nhau chẳng dám trông (3)

Máu chảy rồi…

máu đẫm như sông

Mũi tên ḥn đạn ấy

Xô chẳng ngă tượng đồng

Nói ǵ lay với rung (4)

Nỗi đau và nỗi giận

Vừa giận vừa thương tâm

Thương cánh bèo lận đận

Trôi về đâu…

xa xăm…

Hỡi trời che đất chở

Nét đứng thẳng ngàn năm

Cho dối lừa hèn hạ

Ngă sơng soài dưới chân

Nàng đến rồi Kiều hỡi

Ta ngă vào thơ văn

Một ngàn năm

Một vạn năm

Cái chết đứng c̣n nguyên

Cái ngă cũng c̣n nguyên

Oan khí tương triền (5)

tuôn rơi nước mắt

Ràn rụa đau thương

Ăm ắp nỗi niềm!

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"Chết đứng như Từ Hải" trở thành từ ngữ biểu tượng cho hoàn cảnh bị lừa vào, bị gài vào t́nh huống bất ngờ, oan khiên, ngang trái.

(2)

"… Vinh hoa bơ lúc phong trần

Chữ t́nh ngày lại thêm xuân một ngày…"

(3)

"… Mặt nào trông thấy nhau đây

Thà liều sống thác một ngày với nhau…"

(4)

"… Khí thiêng khi đă về thần,

Nhơn nhơn c̣n đứng chôn chân giữa ṿng

Trơ như đá, vững như đồng.

Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời…"

(5)

"… Lạ thay oan khí tương triền

Nàng vừa phục xuống Từ liền ngă ra…"

 

 

 

26-

KHÉO KHUYÊN

KỂ LẤY LÀM CÔNG

 

"… Khéo khuyên kể lấy làm công…" (1)

Chữ "khéo" sao khéo dùng đến thế

Cái khéo khôn ngoan,

tàn tệ không ngờ.

Khéo lỏi t́ –ranh mănh –điêu ngoa

Khéo lừa vợ giết chồng người,

gớm,

sao mà quá khéo!!!

Khéo vờ vịt ghi công vợ giết chồng (2)

sao mà lạc điệu?!

Cái khéo lộ mặt rồi,

C̣n khéo vào đâu

Từ công ơi

Xin hăy hiểu cho nhau

Thiếp phận đàn bà chẳng nghĩ cạn nông sâu

Nên dại dột đưa nhau vào chỗ chết (3)

Uổng chí anh hùng (4)

Tan thân bách chiến

Hồn dẫu về rồi xin hiển hiện anh linh

Xui khiến Hồ công cho cảo táng di h́nh

Cho thiếp được chút ân t́nh đền đáp

Nấm đất ven sông

Ngậm ngùi sống thác

Mà bóng anh hùng chất ngất mấy từng cao

Bóng ngả về đâu

Năm thành xưa vẫy gọi (5)

T́m bóng chiều

Ngăn ngắt tím

Mạch sông sâu

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Khéo khuyên kể lấy làm công

Kể bao nhiêu lại đau ḷng bấy nhiêu…"

(2)

"… Đă hay thành toán miếu đường

Giúp công cũng có lời nàng mới nên…"

(3) & (4)

"… Rằng Từ là đấng anh hùng

Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi

Tin tôi nên quá nghe lời

Đem thân bách chiến làm tôi triều đ́nh

Tưởng rằng phu quư phụ vinh

Ai ngờ một phút tan tành thịt xương…"

(5)

"… Đ̣i phen gió táp mưa sa

Huyện thành đạp đổ năm ṭa cơi nam…"

 

 

 

27-

TIẾNG ĐÀN RƠI RỤNG

BẾN SÔNG TANG

 

"…Loi thoi nấm đất bờ sông nhỏ

Hồn có nghe chăng một giọng đàn…" (Tản Đà)

Mộ chồng nấm đất chưa khô

Mà thân thiếp phải bưng hồ rượu cay

Quan quân chè chén tỉnh say

Tiệc vui bắt thiếp so dây hầu đàn (1)

Bốn dây rền rĩ khóc than (2)

Thương chồng nên nỗi –bàng hoàng bốn dây

Lọt tai nhỏ lệ, chau mày (3)

Ỡm ờ ve văn nhân này, duyên kia (4)

Ỡm ờ trăng gió canh khuya

Lấm bùn thân, lại đầm đ́a khóc nhau

Bốn dây ơi –bốn dây sầu

Bốn dây rơi rụng về đâu tiếng đàn

Sông trăng bàng bạc màu tang

Bơ vơ nấm đất –ngỡ ngàng ḍng trôi!

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

"… Bắt nàng thị yến dưới màn

Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu

Một cơn gió thảm mưa sầu

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay…”

(3)

"… Ve ngâm vượn hót nào tày

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu…"

(4)

"… Dạy rằng hương lửa ba sinh

Dây loan xin nối cầm lành cho ai…"

 

 

28-

OAN THÁC CHÀNG ƠI

ĐẤT CŨNG ĐAU

 

Tổng đốc nhăn mày rơi giọt châu

Ai ngờ mặt sắt dạ mềm đâu (1)

Bốn dây rung khóc bờ sông vắng

Năm ngón khua nh́n bóng nước sâu

Say tỉnh –tỉnh say lời ướm hỏi (2)

Khóc cười – cười khóc lệ tuôn mau

Tiểu Lân thôi dứt tơ ḷng cũ (3)

Oan thác chàng ơi –đất cũng đau!

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nghe càng đắm ngắm càng say

Lạ cho mặt sắt cũng ngây v́ t́nh…"

(2)

"… Dạy rằng hương lửa ba sinh

Dây loan xin nối cầm lành cho ai…"

(3)

"… C̣n chi nữa cánh hoa tàn

Tơ ḷng đă dứt dây đàn Tiểu Lân…"

 

 

29-

KINH LUÂN THỰC ĐĂ

NÊN RẰNG

 

"… Có quan Tổng đốc trọng thần

Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài…"

(Đoạn Trường Tân Thanh – Nguyễn Du)

Canh khuya ngủ với vợ thù (1)

Sáng ra gả vội thổ tù được ngay (2)

Khen cho chùi mép đă tài

Ngón chơi tàn nhẫn chẳng ai sánh bằng

Kinh luân thực đă nên rằng…

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Hạ công chén đă quá say

Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra

Nghĩ ḿnh phương diện quốc gia

Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào

Phải tuồng trăng gió hay sao…”

Theo Chiêm Vân thị, sách đă dẫn, trích nguyên bản của Thanh Tâm Tài Nhân: "Tôn Hiến đạo: quan tử tài sắc, khởi vô vấn kỳ chi nhân, hà tất luyến luyến vu vong tặc hồ?

Kiều bất ngữ, lưỡng lệ giao lưu. Hiến tửu hàm, tâm động, giáng dĩ thủ thức Kiều lệ, đạo: "khanh vô tự thương, ngă dữ tử giai lăo, nhân dĩ tửu cưỡng chi…."

Tôn Hiến nói: "xem tài sắc của nàng há không có người khát vọng sao? Sao lại cứ phải quyến luyến với tên giặc đă chết". Kiều không nói, hai hàng lệ chứa chan. Tôn Hiến rượu say, ḷng xúc động bước xuống lấy tay lau nước mắt cho Kiều và nói: "khanh không nên tự làm tổn thương ḿnh, ta sẽ cùng nàng chung sống tới già". Nhân thế ép Kiều uống…) Câu: "Nhân dĩ tửu cưỡng chi" nên dịch là: "Nhân đó mượn rượu mà cưỡng hiếp Kiều" có lẽ mới hợp với ư của Hồ Tôn Hiến trong câu: "Ngă dữ tử giai lăo "- Ta sẽ cùng nàng chung sống tới già – ở vế trên.

(2)

"… Công nha phải buổi rạng ngày

Quyết t́nh Hồ mới đoán ngay một bài

Lệnh quan ai dám căi lời

Ép t́nh lại gả cho người thổ quan…"

 

 

 

30-

C̉N NHIỀU PHÚC PHẬN

VỀ SAU

 

Tiền Đường!

Tiền Đường!

Con sông tiền định

Con sông giũ sạch nợ đời

Kiếp đoạn trường lăn lóc đă xong rồi (1)

Dẫu một bước xa chơi th́ cũng phải

Phong trần kia đă trải

Có sá chi bèo nổi với mây ch́m

Cho xong lần nỗi ám ảnh Đạm Tiên (2)

Cuộc ḥ hẹn mười lăm năm có lẻ (3)

Thôi trả hết cho người

Đoạn trường thơ (4)

Dẫu có nhất hay nh́ th́ cũng thế

Nỗi đoạn trường

ai kể

chẳng thương đau…

Sông ơi sông

Xin giũ sạch mái đầu

Mà tóc tội cùng nhau kết măi (5)

Con sông chảy

nước xuôi ḍng

trôi oan trái

Lưới Giác Duyên

c̣n giữ lại,

mảnh t́nh si

Phúc phận ngày sau (6)

c̣n để ngỏ,

một phương về

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2) & (3)

"… Nhớ lời thần mộng rơ ràng

Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây"

Đạm Tiên nàng nhé có hay

Hẹn ta th́ ở dưới này rước ta…"

(4)

"… Đoạn trường sổ rút tên ra

Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau…"

(5)

"cái tóc cái tội " (tục ngữ)

(6)

"… C̣n nhiều hưởng thụ về sau

Duyên xưa tṛn trặn–phúc sau dồi dào…"

 

 

31.-

TIỀN ĐƯỜNG

THẢ MỘT BÈ LAU … (1)

Bể trầm luân thả bè lau

Sông Xuân (2) người đă hẹn nhau lâu rồi

Nghĩa t́nh từ thuở xa xôi

Am xưa người cũ một đời dễ quên

Bây giờ duyên đă hữu duyên

Tiền Đường, bến Giác cửa thiền chờ nhau

Thả bè lau, thả bè lau

Cũng là thả hết nỗi đau vào thiền

Hương thừa phấn cũ là duyên

Ḍng sông sẽ rửa mối phiền ấy thôi

Đoạn trường ḍng nước chảy xuôi

Đạm Tiên ảo ảnh một đời phù du

Bè lau thí pháp độ tu

Nổi ch́m hay đến bốn mùa nghe kinh

Đoạn trường trả lại sông xanh (3)

Trả chim khôn trở lại vành ấm no (4)

Nào chàng Từ Hải sa cơ (5)

Về đây gặp lại người mơ thuở nào

Muôn quân ngh́n tướng xôn xao (6)

Triết Giang Phúc Kiến binh đao đă tàn (7)

Bè lau neo gửi hồn oan

Mây tang thương trả gió ngàn phù vân

Dẫu quan quân, dẫu loạn quân

Sông Xuân rửa sạch bụi trần đi thôi

Bè lau chuông gọi hồn người

Người hiền lương kẻ cơi ngoài ranh ma

Nào đâu Mă, Tú, Bạc Bà

Nào là Ưng Khuyển nào là Sở Khanh

Tội th́ cũng đă gia h́nh (8)

Chẳng qua một kiếp chúng sinh mê lầm

Bè lau nẻo ấy là tâm

Neo tâm (9) là Phật một lần buông dao

Thả bè lau, thả bè lau

Hồn neo thính pháp –hồn vào văn kinh

Hỡi hồn khắp dải sông xanh

Am thiền một nếp cỏ tranh đợi người

Hợp duyên dưới bóng Phật đài

Cũng là cộng nghiệp độ người trầm luân

Giúp chàng Kim với Thuư Vân

Một mai về bến sông Xuân mơ màng

T́nh xưa bèo hợp mây tan

Cố nhân bến cũ bàn hoàn t́m nhau

Thả bè lau, thả bè lau

Là duyên hay lẽ nhiệm màu Giác Duyên

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau

Tiền Đường thả một bè lau rước người…"

(2)

Sông Xuân: Khổng Tử ngồi với các môn đệ Tử Lộ, Tăng Điểm (tức Tích), Nhiệm Hữu và Công Tây Hoa. Khổng Tử hỏi chí của họ. Tử Lộ mơ cầm quân, Nhiệm Hữu thích làm kinh tế, Công Tây ưng coi việc lễ. Khi hỏi đến Tăng Điểm; lúc ấy Điểm đang gảy đàn bèn buông đàn đứng dậy thưa: “Chí của tôi khác hẳn ba thầy ấy”. Khổng Tử nói: “Có sao đâu, mỗi người nói chí của ḿnh thôi mà" Tăng Điểm nói tiếp: “Bây giờ là cuối Xuân, áo quần mùa Xuân đă may xong, (bạn bè) tuổi quán (tuổi đội mũ) năm, sáu người, cùng các em nhỏ sáu, bảy người dắt nhau ra sông Nghi tắm rồi lên đài Vũ, Vu hóng mát, sau đó cùng nhau ca hát rồi về". Khổng Tử ngẫm nghĩ một lát mới than rằng: "Ta cũng muốn như anh Điểm”.

Nguyên văn chữ Hán: “Điểm nhĩ hà như? – Cổ sắt hy, khanh nhĩ, sả sắt nhi tác, đối viết: “dị hồ tam tử giả chi soạn. Tử viết: “hà thương hồ. – Diệc các ngôn kỳ chí dă!" Viết: Mộ xuân giả, xuân phục kư thành, quan giả ngũ lục nhân, đồng giả lục thất nhân, dục hồ Nghi, phong hồ Vũ-Vu, vịnh nhi quy”. Phu tử vị nhiên thán viết: "ngô dữ Điểm dă".

Ư của đức Khổng Tử là thuận theo tự nhiên mà phát triển cuộc sống của ḿnh (Khổng Học Đăng – Phan Bội Châu – Khai Trí xuất bản)

(3)

"… Đoạn trường sổ rút tên ra

Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau…"

(4)

"… Chỉn e đất khách một ḿnh

Chim khôn chưa dễ t́m vành ấm no…"

(5)

"… Đương khi bất ư chẳng ngờ

Hùm thiêng khi đă sa cơ cũng hèn…"

(6)

"… Vội truyền sửa tiệc quân trung

Muôn binh ngh́n tướng hội đồng tẩy oan…”

(7)

"… Sảy nghe thế giặc đă tan

Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Triết Giang…"

(8)

"… Lệnh quân truyền xuống nội đao

Thề sao th́ lại cứ sao gia h́nh…"

(9)

Thanh tịnh thị Phật tâm (Phật ngữ)

(10)

Buông dao thành Phật (thành ngữ Phật giáo)

 

 

 

 

32-

KHÁT VỌNG T̀M NHAU

 

"… Rằng tôi trót quá chân ra (1)

Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo…" (2)

Lỗi ấy do ḿnh?

Lỗi ấy tại ai?

Chàng Kim ơi!

Chàng Kim ơi!

Dẫu có nhận do ḿnh gây nên tội

Th́ t́nh h́nh sẽ thay đổi hay sao?

Con én đă bay rồi

chỉ c̣n lại nỗi đau

Đau trào nước mắt (3)

Phím đàn xưa (4)

Ṿng xuyến ấy

Ta chạm tay vào sự thật

Ta mất em rồi

Ta nắm chặt tay ta

Có nhớ nhau đành rủ rỉ tiếng tơ (5)

Ḷ hương cũ,

khói hương trầm,

mờ bay nghi ngút

Nỗi nhớ thương lịm ngọt

T́nh yêu nào không những phút thăng hoa

Kiều đă về rồi

Đồng vọng tiếng tơ (6)

Thềm hoa gót ngọc

Xiêm áo hương xưa

Cho khát vọng t́m nhau

Cháy bỏng những cơn mơ

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

Thơ Kiều

(3)

"… Đau đ̣i đoạn, ngất đ̣i thôi

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê…"

(4)

"… Thề xưa giở đến kim hoàn

Của xưa lại giở đến đàn với hương…"

(5) & (6)

"… Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ

Trầm bay lạt khói, gió đưa lay rèm

Tưởng như trên nóc bên thềm

Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng…"

 

 

 

33-

RỰC RỠ MĂI

XUÂN XANH

 

Khi trao đổi với chàng Kim

về đoạn kết cuộc đời ḿnh

Thúy Kiều cũng vô cùng đắn đo, thận trọng

Lời thưa gửi

chân t́nh

êm đềm

sâu xa

xúc động

Như mảnh hồn nàng c̣n mang nặng xót xa

Lắng nỗi đau thương cả một đời hoa

Từ ngộ biến đến giờ (1)

Lăn lóc bấy ong qua bướm lại

Mấy phong trần ch́m nổi

Thương cho ai mà để tủi cho ai

Phấn hương thừa tan nát cánh hoa rơi

C̣n ngẩng mặt với đời sao được

Gương đă vỡ rồi

Trăng tan bóng nước

Soi vào đâu được cuộc t́nh xuân

Nửa đời hoa

Chưa lặn vết roi hằn

Đau từ thuở

một bước bước ra

mấy lần dặn lại (2)

Vết sẹo cháy da ḿnh dai dẳng măi

Như mới ngày qua

Như mới hôm nay

Run rẩy hồn hoa

Mặt dạn mày dày (3)

Xin khép cửa ḷng em (4)

Dẫu tháng ngày ṃn mỏi

Duyên Vân đă mặn nồng chăn gối (5)

Lửa hương ấy

cháy lên đi

đừng tro tàn lạnh nguội

Để riêng em

Khỏi tủi với ḷng em

Chữ trinh này xin giữ với t́nh riêng (6)

Mà gửi hết vào nhau

Bao nỗi niềm

thương yêu

trân trọng

Cuộc tái hợp nửa vời thôi (7)

Mà t́nh sâu

Mà nghĩa nặng

Như giọt sương mai c̣n đọng đầu cành

Giọt nước tṛn xoe

lóng lánh

long lanh

Như đôi mắt

Kiều ơi

C̣n rực rỡ măi xuân xanh.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Thiếp từ ngộ biến đến giờ

Ong qua bướm lại đă thừa xấu xa…"

(2)

"… Dùng dằng khi bước chân ra

Cực trăm ngàn nỗi, dặn ba bốn lần…"

(3)

"… Riêng ḷng đă thẹn lắm thay

Cũng là mặt dạn mày dày khó coi…"

(4)

"… Từ rày khép cửa pḥng thu

Chẳng tu th́ cũng như tu mới là…"

(5)

"… Cửa nhà dù tính về sau

Th́ c̣n em đó, lọ cầu chị đây…”

(6)

"… Chữ trinh c̣n một chút này

Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan…"

(7)

"… Bấy lâu đáy bể ṃ kim

Là nhiều vàng đá phải t́m trăng hoa

Ai ngờ lại hợp một nhà,

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm…”

 

 

 

34-

TRĂNG NGHIÊNG

NGHIÊNG CẢ HỒN NHAU

 

V́ em hai chữ kinh quyền (1)

Với ta em vẫn trinh nguyên thuở nào (2)

Trăng tṛn –trăng lại tṛn sao (3)

Hoa tươi c̣n có hoa nào tươi hơn (4)

Thôi em cũng chả nên hờn

Trăm đau xin trả lại phường gió trăng

Nến xưa nối đến vĩnh hằng (5)

Gương trong ngày cũ –trăng vằng vặc soi

V́ em thôi cũng chiều thôi (6)

Ái ân xin hẹn –ngậm ngùi kiếp sau (7)

Trăng nghiêng nghiêng cả hồn nhau

Trinh nguyên ngày cũ –nỗi đau bây giờ

Mối t́nh thơ –mối t́nh thơ

Trăm năm –một chấm sao thưa –chớm ngày

Qua rồi tan hợp tỉnh say

Đêm với đêm cũng vơi đầy nỗi riêng.

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

"… Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

Có khi biến – có khi thường

Có quyền nào phải một đường chấp kinh

Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay…"

(3) & (4)

"… Hoa tàn mà lại thêm tươi

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa…"

(5)

"… Thêm giá nến, nối hương b́nh

Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan…"

(6) & (7)

"… Ai ngờ lại hợp một nhà

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm…”

 

 

 

35-

C̉N VẲNG NGÀN SAU

TIẾNG ĐÀN

 

Tiếng đàn xưa,

Tiếng đàn xưa.

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Ai oán dây tơ

Réo rắt ruột ṿ,

Chín khúc ḷng đau (1)

Giờ gặp lại nhau.

Bổi hổi bồi hồi

Nhắc câu chuyện cũ

Mà sông nước cát lầm một thuở

Mười lăm năm

Bùn lấm đường tơ,

Đời hoa nhầy nhụa

Mười lăm năm,

T́nh cũ c̣n đây

Nên chiều ḷng xin nắn lại hồn dây, (2)

Cho ấm áp ḷng nhau

Cho tươi lại

mối t́nh đầu gắn bó

Tiếng đàn đă vui rồi

Gửi hương bay cho gió

Gửi mưa xuân dào dạt mở chân trời

Giấc mộng Trang Sinh (3)

Cơn mơ huyễn cuộc đời

Mà năm ngón năm cung

Theo với hồn người d́u dặt

Mừng biết mấy cho nàng

Cơn sầu thảm đă qua (4),

Nỗi đau đời đă tắt

Để ánh lên đôi ánh mắt vui vầy (5)

Thôi th́ đàn măi măi cuốn dây (6)

Cũng đủ thỏa ḷng nhau

Hơn một lần, (7)

nghe tiếng đàn thuở ấy

Truyện đă gấp lại rồi

Tiếng đàn Kiều văng vẳng măi,

Vọng tới hôm nay,

Vọng măi ngàn sau.

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Khi tựa gối khi cúi đầu

Khi ṿ chín khúc, khi chau đôi mày…"

(2)

"… Ăn năn th́ sự đă rồi,

Nể ḷng người cũ vâng lời một phen…"

(3)

"… Khúc đâu đầm ấm dương ḥa

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh…"

(4) & (5)

"… Chàng rằng phổ ấy tay nào

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy

Tẻ vui bởi tại ḷng này

Hay là khổ tận tới ngày cam lai…"

(6)

"… Một phen tri kỷ cùng nhau

Cuốn dây từ ấy về sau xin chừa…"

(7)

Kim Trọng được nghe Thúy Kiều đàn hai lần, lần thứ nhất khi hai người gặp nhau tại nhà Kim Trọng và lần thứ hai trong đêm tái hợp.

 

 

36-

KẺ L̉NG LÀNH

 

"Xảo giả chuyết chi nô" (1)

"Thánh nhân đăi kẻ khù khờ" (2)

Liệu có nên trách nàng Vân quá ngây thơ

giữa cảnh nhà gia biến.

Hay Nguyễn Du muốn v́ đời thể hiện

Các cách đẹp đàn bà

Đẹp kiểu Hoạn Thư,

lạnh lùng,

mực thước,

kiêu sa.

Nét đẹp Thúy Kiều,

sắc sảo mặn mà,

dứt ra chẳng nổi.

Đẹp chết đuối hồn người.

Say v́ nết,

chết v́ tài,

ai gặp cũng mê tơi.

Cái mầm họa,

anh hoa phát tiết ra ngoài. (3)

Đă có kẻ,

thuở thiếu thời,

đoán thế.

Liệu có phải,

Trời đất vô t́nh nên ghét ghen

người tài hoa không nhỉ.

Mà vô duyên đến thế (4)

Thúy Kiều ơi!

Lại mang lấy chữ t́nh (5)

Lời Tam Hợp đến hay

Tài sắc ấy

Tính t́nh này

Sao khỏi vướng ṿng dây tai họa (6)

Sắc sảo khôn ngoan sao mà nặng nợ.

Nợ hiếu thiếp đền,

T́nh nọ nhờ em.

Có thể người sau sẽ rất ngạc nhiên

Khi Vân để việc nhà,

Kiều một ḿnh lo liệu

Nguyễn Du đă đưa phần hơn của Thúy Kiều

lên cực khéo (7)

Cho chữ tài t́nh ngân âm điệu tai ương

U uẩn hồn hoa,

Một khúc đoạn trường.

Buồn từ thuở hoa xuân c̣n đương hé nụ

Định mệnh đă an bài?

Trách nàng Vân chi nữa!

Khi hai chữ tài, t́nh Kiều giành cả c̣n đâu

Thôi th́ thôi,

Phúc phận về sau

Trời bù đắp cho Vân (8)

Kẻ ḷng lành (9) giữa xôn xao trần thế

Ngu si hưởng thái b́nh,

Hiểu thế nào đây nhỉ.

Khi trước t́nh yêu Vân cũng chỉ hững hờ (10)

Nét đẹp nàng Vân,

tṛn vành vạnh trăng mơ.

Mà lạt lẽo…

mà ầu ơ quá thể! (11)

Thân cù mộc,

một sân ḥe quế. (12)

Tâm b́nh thường

Hạnh phúc b́nh thường

Có phải thế hay chăng?

 

DẪN KIỀU:

(1)

Người khôn là đầy tớ kẻ ngu đần

(2)

Tục ngữ

(3)

"… Nhớ từ năm hăy thơ ngây

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:

Anh hoa phát tiết ra ngoài

Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa…"

(4)

"… Bể trần ch́m nổi thuyền quyên

Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời…”

(5)

"… Lại mang lấy một chữ t́nh,

Khư khư ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong…"

(6)

"… Ma đưa lối quỉ dẫn đường

Lại t́m những chốn đoạn trường mà đi…”

(7)

"… Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn…"

(8) & (9)

"… Sáng danh Chúa cả trên trời,

B́nh an dưới thế cho người thiện tâm…"

(Kinh Thiên Chúa giáo diễn bằng văn vần).

"Người thiện tâm" c̣n được dịch là "Kẻ ḷng lành" trong các bản kinh sách.

(10)

"… Gặp cơn b́nh địa ba đào

Thế nên duyên chị buộc vào duyên em

Cũng là phận cải duyên kim.

Cũng là máu chảy ruột mềm chứ sao…"

(11)

"Ầu ơ đôi tiếng ví dầu

Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng" (ca dao)

Chỉ những hành động buông xuôi cho xong chuyện

(12)

"… Thừa gia chẳng hết nàng Vân

Một thân cù mộc một sân quế ḥe…"

 

 

37-

TRANG GIẤY

HÓA THÂN RỒI

THƠ VỌNG

ĐẾN NGÀN SAU

 

 

37.1-

NỖI ĐAU NÀNG KIỀU

NÓNG HỔI

NHỮNG VẦN THƠ

 

"Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều"

(Ca dao)

Khi mẹ ru con bằng thơ Kiều

Thơ Kiều hóa ca dao

Cho giấc ngủ con sâu

Theo những cánh c̣

bay vào sương chiều lăng đăng

Tiếng mẹ à ơi…

nhịp vơng

Tiếng vơng đưa…

Thời gian trôi chầm chậm

Chiều nghiêng xuống bên thềm

Giấc ngủ vẫn chưa qua

Khói ấm xanh xao nóc nhà

Vươn nhẹ trong chiều

Vươn nhẹ trong mơ

Mẹ lại vỗ vào lưng con

Vẫn tiếng thơ Kiều đều theo nhịp vỗ

Con mơ màng

Con chắp cánh bay xa

Bay hụt hơi chẳng kịp những cánh c̣

Khi mẹ ru con bằng thơ Kiều

Mẹ quên lời dặn của ông bà

Đàn bà chớ kể chuyện Kiều

Sợ nhiễm thói trăng hoa!?

Sợ thân phận đàn bà ch́m nổi!?

Nỗi sợ mấy trăm năm c̣n nhức nhối

Nỗi đau nàng Kiều

Nóng hổi những vần thơ.

 

 

37.2-

SỰ HÓA THÂN

CỦA TRANG GIẤY

Khi cha ngâm thơ Kiều

Thơ Kiều bàng bạc Đường thi

Từng tiếng cha ngâm

Thành giọt mưa

Rơi xuống mái nhà

Rơi xa đồng vắng

Gọi tiếng gà trưa thinh lặng

Gọi tiếng mơ chiều âm u hoang vắng

Gọi những âm hao sầu lắng thiết tha

Thương người ở nhà

Nhớ kẻ đi xa

Thương nhớ đầy vơi…

Cuộc sống cũng đầy vơi…

Theo nhịp thơ ngân nga.

Tiếng thơ Kiều chan vào cuộc sống

Bồi hồi ḷng cha!

Tiếng thở dài ai xót xa đâu đó

Nước sông sâu con đ̣ nhỏ,

Ai qua đ̣ ai nhớ bến sông sâu

Tiếng ví dặm quê nhà hun hút

Hay ầu ơ xa đôi tiếng ví dầu

Thành tiếng thơ Kiều tràn trang giấy trắng

Trang giấy hóa thân rồi

Thơ vọng đến ngàn sau.

 

 

37.3-

CHO NGÀN SAU

THƯƠNG KHÓC MĂI NGUYỄN DU

"… Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như…"

Nguyễn Du (Độc Tiểu Thanh kư)

Khi mẹ cha cùng nhau tṛ chuyện

Đôi khi cũng lẩy một câu Kiều.

Một câu Kiều lẩy,

Mà hiểu hết ḷng nhau

Ôi cái mạch ngầm thơ xao xuyến ấy

Cứ măi tuôn trào,

xanh băi mía nương dâu

Trăm mạch ngầm thơ đổ về con suối

Trăm con suối đổ về sông sâu

Biển cả mênh mông…

chào mời…

vẫy gọi…

Trắng những bông hoa,

Tươi trắng duyên đầu.

Cha mẹ lại dặn con,

Đàn bà chớ kể chuyện Kiều!

Lời dặn mang nỗi đau xưa ấy

Thương những cánh hoa giữa gió đời run rẩy.

Cho ngàn sau

Thương khóc măi Nguyễn Du./.

 

PHỤ LỤC

Tạp Thi

Nguyễn Du sáng tác.

Sài G̣n Năm Bính Tuất, giữa mùa Đông

Nguyễn Đ́nh Hoàng viết

 

 

 

TẠP THI

 

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên

Xuân lan thu cúc thành hư sự

Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên

Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ

Bạch vân ngọa bệnh Quế giang biên

Thôn cư bất yếm tần cô tửu

Thượng hữu nang trung tam thập tiền

Nguyễn Du

 

 

DỊCH NGHĨA:

Tráng sĩ bạc đầu buồn bă ngước nh́n trời

Hùng tâm và sinh kế đôi đường

không biết ǵ nữa

Hoa lan ngày xuân, hoa cúc mùa thu

đều thành việc hư huyễn

Mùa hạ nóng mùa đông lạnh

đă cướp mất tuổi xanh

Dắt chó vàng theo đuổi cuộc vui

dưới chân núi Hồng Lĩnh

Mây trắng nằm bệnh bên sông Quế

Ở xóm quê không chán nhiều lần đi mua rượu

Trong túi c̣n ba chục đồng tiền

 

 

 

PHÓNG TÁC THƠ

 

Tóc bạc màu rồi tráng sĩ ơi

Trái tim rỉ máu cửa luân hồi

Hùng tâm sinh kế đôi ḍng lệ

Nước biếc non xanh một ngậm ngùi

Hồng Lĩnh chốn về đâu cơi mộng

Quế Giang nẻo cũ giấc mơ trôi

Thôn xa lẽo đẽo bầu thơ rượu

Thập loại c̣n đau những kiếp người

Nguyễn Đ́nh Hoàng

 

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

KIỀU ƠI ĐÊM ẤY BÂY GIỜ

 

Kiều ơi đêm ấy bây giờ (1)

Chỉ là một nỗi niềm trơ nỗi niềm

Mảnh sầu trăng rụng giữa đêm

Trang thơ bật khóc lệ hoen nhạt nḥa

Đuốc hoa trần trụi kiếp hoa (2)

Nỗi đau đêm ấy bây giờ những ai

Xuân th́ nhầy nhụa tả tơi

Góp thêm tiếng khóc cơi người ngả nghiêng

Dặm đời nhịp ngơ chung chiêng

Chông chênh đôi mắt sầu riêng lặng buồn

Ngàn trùng cơi nhớ hoàng hôn (3)

Khói dâng mây biếc

ngơ hồn chiêm bao (4)

Sấm xuân sóng gọi ba đào (5)

Trang thơ để ngỏ khóc vào xuân xanh

Trăm ngh́n phận gái mong manh

Có nghe thơ gọi hồn ḿnh đêm nay

Hỡi ơi phách quế hồn mai (6)

Bốn phương thơ gọi hồn ơi hăy về

Nỗi đau rơi rụng bờ mê

Đêm xuân bật khóc đầm đ́a lệ sa

Trang thơ đêm ấy bây giờ

Vẫn c̣n đau đến ngẩn ngơ cả ḷng

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2):

Đêm Mă Giám Sinh chiếm đoạt Kiều và Kiều biết rằng ḿnh đă rơi vào tay bọn buôn người:

"… Một cơn mưa gió nặng nề

Thương ǵ đến ngọc, tiếc ǵ đến hương

Đêm Xuân một giấc mơ màng

Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ…"

(3) & (4):

Ư thơ trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu: "Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng xử nhân sầu"

Dịch nghĩa:

Buổi chiều cổng làng quê nhà ở nơi nào

Khói và sóng trên sông khiến ḷng người buồn bă

Thi sĩ Tản Đà dịch thơ:

"Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai"

(5)

sấm xuân: mùa Xuân có sấm khan thường hay có giông và sóng lớn.

(6)

phách quế hồn mai: phách quế là mặt trăng; hồn mai chỉ người đẹp.

 

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

ĐÈN SÀI G̉N

 

Đèn Sài G̣n ngọn xanh ngọn đỏ

Cuộc đời nào màu đỏ màu xanh

Em ngồi quán bán nụ cười cho khách

Nụ cười buồn những thoáng sống mong manh

Đèn đỏ ngă tư anh dừng chân lại

Đèn xanh anh vội đạp xe qua

Cuộc sống bỗng đi bỗng ngừng bỗng chạy

Nhưng con tim có ngừng đập bao giờ

Em cũng thế như con tim c̣n đang đập

Nụ cười luôn phải giữ trên môi

Dù nụ héo nụ tươi th́ cũng vậy

Cũng chỉ là cho cuộc sống em tôi

Đèn Sài G̣n chẳng xanh mà chẳng đỏ

Ngọn đèn dầu đêm cúp điện vàng hoe

Em vẫn thế đôi vành môi vẫn mở

Nụ cười nào xoay bóng tối vành ly

5.1991

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

SÀI G̉N ĐÊM

 

Sài G̣n đêm

Rực rỡ đèn màu

Tím vàng xanh đỏ

Sài g̣n đêm

Sặc sỡ áo quần

Vải Mỹ

vải Tây

vải Nhật

In chữ Anh

chữ Pháp

chữ Tàu

Những chú bé ngông nghênh

Phóng xe hơi bóng loáng soi rơ mặt nhau

Những khuôn mặt phè phỡn

hả hê

hớn hở

Hay đăm chiêu

lo lắng

buồn rầu

Cuộc sống đa đoan

Giữa ḍng xe tuôn chảy

Cũng có lúc đứng nh́n nhau

Giữa ngă ba ngă tư đường xe kẹt

Nước hoa thơm ai tẩm đẫm trên đầu

Ḥa lẫn mùi xăng mùi khói

Bay vào đâu?!

Vào đâu?!

Váy ngắn hở đùi

Áo hở lưng hở bụng

Em đi đâu… về đâu

Quán rượu chờ

Quán cà phê đợi

Khách sạn gọi mời

Em sẽ lạc vào đâu

Em sẽ bước vào đâu

Ơi những đóa hoa c̣n nồng nàn hương sắc

Hay những cánh tàn rơi bên hẻm tối ga tàu

Con dốc đời trơn tuột

Em sẽ trượt vào đâu

Em sẽ ngă vào đâu

Đèn Sài G̣n vẫn chớp ḷe xanh đỏ

Mà ḷng ta chớp lóa những cơn đau

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

BÂY GIỜ NHIÊU LỘC

 

Bờ kinh Nhiêu Lộc bây giờ

Cây soi bóng nước đèn mờ nhạc xanh

Mắt em lấp lánh đa t́nh

Tiếp viên tiếp thị quẩn quanh đèn cù

Cười nghiêng chén rượu đong đưa

Bọt bia tan cả cơn mưa bên ngoài

Nào ai chén rượu quên đời

Nào em rót chén rượu mời gian nan

Gió trăng –lời của thế gian

Lẩn theo chén rượu bàng hoàng ḷng ai

Mây mưa nói giữa chợ đời

Lời thô theo rượu thành lời gấm hoa

Em cười héo cả ḷng ta

Cơn mưa nào? Tiếng sấm xa gọi buồn

Bờ kinh đêm xuống sâu hơn

Nước trong bỗng hóa đen ng̣m giữa đêm

17.11.2006

 

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

VẪN LÀ EM ĐÓ

 

Vẫn là em đó Thuư Kiều

Vẫn là son phấn đủ điều phấn son

Vẫn lầu xanh, vẫn lầu hồng

Vẫn là đau đến mênh mông kiếp người

Trăm ngh́n thân phận lạc loài

Bèo trôi sóng vỗ khóc ngoài chân mây

Phong trần mang kiếp đọa đày

Gửi màu son phấn giữa bầy hùm beo (1)

Nỗi buồn gửi mảnh trăng treo

Mưa nhân gian gơ quạnh hiu tiếng buồn

Tiếng ḷng thổn thức mưa tuôn

Bốn phương mây trắng gửi hồn chiêm bao

Ngơ xưa gửi sắc hoa đào (2)

Có hay người lạc phương nào rất xa

Cúi đầu thương thuở xuân hoa

Mơ sầu nhịp gơ kinh ca… gọi hồn

Lật t́m dấu cũ cảo thơm

Mới hay chuyện cũ vẫn c̣n quanh ta

 

 

Thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng

Ở QUÁN CA CỔ

(Thị trấn Giá Rai – BẠC LIÊU)

tặng bạn Ngô Văn Vũ

 

Bước vào quán lá liêu xiêu

Bốn bề rách nát tiêu điều chỏng trơ

Màn che vách cũng xác xơ

Em cười (quán chỉ… t́nh thơ rước người)

Tiếng đàn phím lơm –tim tôi

Ai vừa khoét một phím đời rất sâu

Vầng trăng ai dắt qua cầu

Câu ca cổ – tiếng đàn bầu tiếc thương

Nguyệt cầm tức tưởi âm buồn

Câu xề chới với… mảnh hồn tôi đâu

"T́nh anh bán chiếu" dăi dầu

Câu ca treo ngược mái lầu buồn tênh

Ngựa về sải vó chông chênh

"Vơ Đông Sơ” khóc cuộc t́nh dở dang

Xự xang líu cộng xê xàng

Câu ca cổ gọi tiếng đàn lên khơi

Nghiêng đầu khẽ tựa vai tôi

Mắt em lấp lánh hạt cười kiều nhi

Tiếng ca rơi rụng xuân th́

Bóng trăng thấp thoáng đường quê ngơ ṃn

Đồng đêm lộng gió bờ truông

Trống đ́nh giục giă vở tuồng ngày xưa

Mái đ́nh ấp ủ hương mơ

Bây giờ mái lá vật vờ hồn hoa

Ôm em thẹn với bài ca

Câu ca cổ –những ḍng thơ tuyệt vời

Nhủ ḷng bác Sáu Lầu (*) ơi!

Đành xin chịu lỗi với người –đêm nay

_____________________________________________________

(*)

Ông CAO VĂN LẦU, tác giả bản Dạ Cổ Hoài Lang bất hủ, mộ phần ông yên nghỉ hiện nay nằm cách trung tâm thị xă Bạc Liêu 1cây số.

 

 

 

 

NHỮNG

CẢM NHẬN VỀ

PHONG VẬN

KỲ OAN

HOÀNG VŨ ĐÔNG SƠN

vvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvv

PHONG VẬN KỲ OAN

Thơ vịnh Kiều của thi sĩ Nguyễn Đ́nh Hoàng

 

 

 

guyễn Du tuyệt vời qua Tố Như thi tập, đạt bất tử ở ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH và Tiếng Kêu Đứt Ruột ấy bao giờ cũng mới. “Mới” cứ tân nhật tân ngay từ khi Nguyễn Du đưa Kiều về Việt Nam qua thi văn nhạc họa.

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH c̣n được nhiều nhà tân học dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp. Vài năm gần đây học giả Lê Cao Phan đă được UNESCO chính thức nhờ ông dịch sang thơ Anh, thơ Pháp rồi tài trợ in ấn để quảng bá cho nhân loại thưởng thức một kiệt tác văn học Việt Nam. Giá trị Truyện Kiều (tên gọi tắt của ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH) được khẳng định từ lâu qua hàng trăm bài viết, hàng ngàn bài thơ lẩy Kiều, thơ Vịnh Kiều. Thơ vịnh Kiều trở nên phong trào khá phổ biến một thời cho những ai thích dùng chữ nghĩa để tự trào phúng thế. Hào khí vịnh Kiều để kư thác tâm sự là những viên ngọc sáng giá trên bầu trời thi ca.

Nhà thơ Nguyễn Đ́nh Hoàng (NĐH) đă tiến xa hơn tiền nhân ở khoản bứt phá khỏi thơ luật nọ niêm kia ràng buộc. NĐH đă một ḿnh tự vịnh, dụng cổ suy kim 40 bài về cảnh t́nh của Kiều trong tập PHONG VẬN KỲ OAN để đối chứng với thuyết “tài mệnh tương đố” PHONG VẬN KỲ OAN là bốn chữ trích trong bài Độc Tiểu Thanh Kư của Nguyễn Du:

"Cổ kim hậu sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngă tự cư"

Đọc thơ vịnh Kiều của NĐH tôi cảm nhận ông là nhà Nguyễn Du học của riêng tôi. NĐH đă khai từ:

"Cuốn sách ấy đóa hoa hồng trong tủ sách

Ḍng thơ in trên trang giấy hoa tiên

Nhân vật nữ – đóa hoa sầu bất tử

Khi người đời măi măi gọi tên"

(Phong Vận Kỳ Oan)

Chúng tôi vẫn quan niệm Đoạn Trường Tân Thanh là tiếng thét vang vọng cả đất trời sầu khổ. Nhưng NĐH lại nhẹ nhàng đi vào thực tại hơn:

"Tiếng ḥ nối đôi bờ kim cổ

Ngọn bút lông loang sấm chớp trăm miền

Nét vạch cháy ngang trời sóng vỗ

Đóa hoa sầu lấp lánh hạt mưa đêm"

(Phong Vận Kỳ Oan)

Chị em Kiều đi thanh minh trên đường về gặp gỡ Kim Trọng, mối t́nh sét đánh khiến Kiều nhi phải trèo tường qua nhà Kim Trọng để NĐH hôm

nay cảm thương:

"Ngọn nến đang lụi dần trên án sách

Đêm huyền ảo thẫn thờ

Đêm hiu hắt mông mênh

Đêm cuộc đời Kiều mở ra

trên từng trang giấy"

(Đêm Thuư Kiều Sang Nhà Kim Trọng)

Mới vừa dệt mộng lứa đôi th́ Kim được tin nhà từ Liêu Dương: "Xuân đường kíp gọi Kim về hộ tang". Cảnh những ngày xa vắng, những khoảng trống đêm trường c̣n nóng hổi chờ mong:

"T́nh yêu vừa trao gửi

Tin nhà đă đến nơi

Liêu Dương xa vời vợi

T́nh yêu, t́nh yêu ơi"

(T́nh Cũng Màu Tang Trắng)

Nguyễn Khuyến khi vịnh Kiều ở bài Kiều tự bán ḿnh có câu đề và kết:

"… Thằng bán tơ kia giở thói ra

Làm cho bận đến cụ Viên già"

"… Có tiền việc ấy mà xong nhỉ

Đời trước làm quan cũng thế a?"

NĐH đă thấu thị hơn tiền nhân đă giải đáp được cái băn khoăn của Nguyễn Khuyến:

"Những thằng bán tơ

Và những gă đầu trâu mặt ngựa

Đời nào chẳng có

Chúng như cặp song sinh

Đen nhờ trắng

hiện h́nh"

(Đen Nhờ Trắng)

Đen NHỜ trắng hiện h́nh! Chữ NHỜ đắc ư đắc cú! Chỉ những ai có căn cơ, có hàm chứa, có sở tồn mới có sở dụng cho nó "hiện h́nh".

NĐH căm hận và khinh miệt bọn buôn người ở mọi góc độ, nhất là kinh doanh thân xác phụ nữ lại là đàn ông con trai:

"… Xênh xang giữa chợ buôn người

Lũ Tú Ông cổ điển tân thời…"

(Lũ Tú Ông)

Kiều gặp Thúc Sinh một nhà buôn lớn có thế lực con rể quan Thượng thư kiêm nhiệm Tể tướng đương triều. Ai ngờ họ Thúc lại:

"Như các công tử con cái gia đ́nh quyền

quư trong thời đại chúng ta

Tiêu tiền bằng vé

Thúc Sinh cũng ném tiền qua cửa sổ

Để mua lấy những cuộc t́nh trăng gió

Của các cô nàng

móng đỏ

mắt xanh"

(Lại Vẫn Giọt Mưa Khuya)

Đen lẩn vào trong trắng! Trắng đen lẫn lộn. Pháp lệnh được chế ra ở trong cửa các nhà quan lớn:

"Hoạn Thư cũng không thể ngồi cao

được nữa

"Cũng phải gặp bọn khuyển ưng

… Con quỷ xă hội đen

Bỗng tru lên từng hồi,

điêu toa,

hắc ám".

(Đen Lẩn Vào Trong Trắng)

Lấy Thúc Sinh được làm vợ bé hay gái bao? Cũng là an phận cho phần đời c̣n lại, đâu chỉ có hai người (Thúc – Thuư) nên:

"Đất cũng tối tăm

mờ mịt

hoang mang

Thúy Kiều đau thương

thổn thức

bàng hoàng

(Những Mảng Đen)

Kiều may mắn gặp được “họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông". Cái gật đầu tri kỷ đă mở cho Kiều lối thoát.

"Một lời đă biết đến ta / Muôn chung ngh́n tứ cũng là có nhau". Lời hứa của khách anh hùng khi nghe Kiều nỉ non bên gối đă như dao chém đá để Nguyễn Du lộng bút và NĐH có ngay nhận định:

"Với lễ rước chầu vu quy trang trọng nhất

(Những lễ nghi quân cách khác lệ thường)

Th́ Từ công đă thật dạ quư yêu nàng

Say đắm,

vỗ về,

ân cần,

che chở".

(Vẫn Nụ Cười Xưa)

Cùng ở cửa quan, phiên xử trước của ṭa xă hội trắng mà đen” th́ can nhân Kiều không hề được hé răng lấy nửa lời. Phiên ṭa sau đổi vai giữa chánh án với bị cáo. Hoạn Thư được phép giăi bày:

""… Rằng tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông th́ cũng

người ta thường t́nh…"

(Nguyễn Du – Đoạn Trường Tân Thanh)

Phong độ của họ Hoạn dù thua cơ vẫn áp đảo được Kiều. NĐH đành hạ bút:

"Thôi th́ phải giữ lấy nền

Tha là tha cả nỗi niềm riêng thôi

Thúy Kiều ơi –Thúy-Kiều ơi

Gặp nhau là đă tha rồi c̣n đâu”

(Cơn Đau Măi Đến Bây Giờ Chửa Thôi)

Tổng đốc Hồ Tôn Hiến của đại Minh triều được Nguyễn Du cợt tả: “Kinh luân gồm tài" khi đối trận với Từ Hải th́ thua, nhưng về mưu lược Hồ đă thắng do khai thác được sự nhẹ dạ của Từ phu nhân. Hồ Tôn Hiến c̣n là con người cơ trí hơn Từ Hải ở khoản tỉnh táo đề pḥng "hoa độc”.

Mượn bữa tiệc khao quân để thỏa măn Kiều xong, Hồ quên ngay lời hứa. Kiều tủi thân v́ bị cú lừa khi thống hối th́ "oan thác chàng ơi đất cũng đau". Đất đau mặc đất, Kiều vẫn sống! Chỉ có Hồ Tôn Hiến là được cả ch́ lẫn chài:

"… Canh khuya ngủ với vợ thù

Sáng ra gả vội thổ tù được ngay

Khen cho chùi mép đă tài

Ngón chơi tàn nhẫn chẳng ai sánh bằng… "

(Kinh Luân Thực Đă Nên Rằng)

Từ Hải đă có nửa sơn hà để nghênh ngang chỉ tiếc chưa xưng đế hiệu. Nếu như họ Từ cũng bắt chước họ Lưu họ Hạng th́ Kiều đă là Lă Hậu hay Ngu Cơ. Kiều tự hạ giá ḿnh để mong “tái hồi Kim Trọng” như một điềm báo trước nên đă khuyên chồng "bó thân về với triều đ́nh" để rồi nay lại phải gả làm vợ một viên thổ quan. Cái giá sao bèo quá! Nên Kiều đành ngậm đắng nuốt cay lao đầu xuống sông Tiền Đường như mộng triệu từ mười lăm năm trước do Đạm Tiên mách bảo. Cuộc sống đă vô cùng khó khăn nhưng không muốn sống cũng đâu có dễ. Sư cô Giác Duyên phối hợp với đạo cô Tam Hợp chờ sẵn cuối ḍng để đón Kiều. Kiều lại “tái sanh” v́ "c̣n nhiều phúc phận về sau".

Khoản tái hồi Kim Trọng phải chi không nên có. Đă "tài mệnh tương đố” th́ muôn đời phải đối chọi nhau. Thêm vào cho có hậu để chấm dứt cuộc tương tranh giữa tài và mệnh chỉ khiến Kiều thêm bẽ bàng:

"Cuộc tái hợp nửa vời thôi

Mà t́nh sâu

Mà nghĩa nặng

Như giọt sương mai c̣n đọng đầu cành

(Rực Rỡ Măi Xuân Xanh)

Trăng nghiêng. Nghiêng cả hồn nhau. NĐH khai triển cái đuôi tái hồi thật chí t́nh. Cái đẹp thời nay đề cao lên hàng mỹ học, nhất là cái đẹp của phụ nữ – một vưu vật cao giá như Kiều th́ Mă-Giám-Sở-Từ-Hồ mê là phải. Nay, NĐH cũng mê Kiều tới bến:

"V́ em hai chữ kinh quyền

Với ta em vẫn trinh nguyên thuở nào

(Trăng Nghiêng. Nghiêng Cả Hồn Nhau)

Khổng Tử bảo: "Nhạc là cái vui của thánh nhân mà có thể khiến cho dân trở nên tốt lành, có thể cảm hóa ḷng người và di dịch phong tục". Nhạc trong Đoạn Trường Tân Thanh đạt những ǵ? Chắc là không! V́ tiếng đàn của Kiều có thể "cảm" nhưng chưa "hóa" được ḷng người. Tiếng đàn chỉ gây hung họa nên lần cuối đàn cho Kim Trọng nghe trong ngày tái hợp xong là "cuốn dây từ đấy về sau xin chừa".

Nhưng NĐH chưa cho chừa v́ ông đă nghe "C̣n Vẳng Ngàn Sau Tiếng Đàn":

"U uẩn hồn hoa

Một khúc đoạn trường”

(Kẻ Ḷng Lành)

Thơ lục bát là thể thơ thuần Việt. Người làm lục bát hôm qua, hôm nay và ngày mai mà có những bài đắc ư chắc chắn là có pha chút ca dao hay chút Kiều trong đó. Nguyễn Du chuyển ngữ Truyện Kiều sang thơ lục bát bằng hồn ca dao. Chúng ta làm thơ lục bát bằng hồn Nguyễn Du. Đó là sự thật. NĐH cũng được thân mẫu đưa vào giấc ngủ bé thơ bằng Kiều nhưng khi ông dùng lời đạt ư

lại là thơ tự do:

"Khói ấm xanh xao nóc nhà

Vươn nhẹ trong chiều

Vươn nhẹ trong mơ

Mẹ lại vỗ vào lưng con

Vẫn tiếng thơ Kiều đều theo nhịp vỗ

Con mơ màng

Con chắp cánh bay xa"

(Nỗi Đau Nàng Kiều Nóng Hổi Những Vần Thơ).

*

* *

Nhà thơ NĐH đă vịnh Kiều tùy hứng ở thể cách, đặt những tiêu đề rất dài cho mỗi bài thơ. Thi sĩ c̣n cẩn trọng Dẫn Kiều để đối chứng. Những mảnh đời trong truyện và ngoài cuộc sống sao lại giống nhau như song sinh. Trước Nguyễn Du là Nguyễn Gia Thiều đă cảm thán:

"Ḷ cừ nung nấu sự đời

Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương".

(Cung Oán Ngâm Khúc – Nguyễn Gia Thiều)

Mây chó cứ bay lững lờ khắp trời, người cứ tang thương chật đất. ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH là tiếng thét đau buồn đến đứt ruột nhân gian. Thi sĩ NGUYỄN Đ̀NH HOÀNG đă ḥa vào tiếng thét ấy một HƠI THỞ MỚI.

Đó là nét mới rất mới hôm nay.

HVĐS

B́nh Quới Tây. Trọng Đông. Bính Tuất

 

 

 

VŨ THỤY ĐĂNG LAN

vvvvvvvvvvvvvvvvvvvvv

ÔI, TỐ NHƯ –

"Mấy trăm năm bật khóc rụng ngàn mây"

 

 

Không ai, một hơi, đọc hết ba ngàn câu thơ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH – Ôi cái mạch ngầm thơ xao xuyến ấy. Hơn một lần, chúng ta đặt sách xuống. Dáng lớn Nguyễn Du lừng lững phía sau tác phẩm, chúng ta nhiều lúc nghẹn ngào đôi khi phẫn nộ Mắt người xưa cháy rực giữa đêm đen. Soi thấu cả tiếng đời run nấc nghẹn. Đạm Tiên theo dơi từng bước Thúy Kiều. Nguyễn Du trở thành một ám ảnh Ngọn bút lông quằn quại giữa nhân gian. Thúy Kiều chuồi ḿnh theo sóng Tiền Đường, chúng ta rọi ngược hướng nh́n vào giữa ḷng ḿnh, rồi phân tích, rồi giải phẫu, ḍ hỏi, điều tra Tiền Đường – Tiền Đường. Con sông tiền định. Con sông giũ sạch nợ đời. Kiếp đoạn trường lăn lóc đă xong rồi. Cuộc thẩm vấn đơn chiếc dẫn chúng ta từ vết tích tâm tư này đến vết tích tâm tư khác, d́u chúng ta vươn lên khỏi lớp lớp hưng vong triều đại, bắt chúng ta vững con sào độc mộc, ngược đà cuồn cuộn của sông thời gian vốn bắt nguồn tự trời măi măi chảy xuôi xuống mé đại dương, xuống mé vô cùng tận.

Đến đó, đến chặng cuối của cuộc đồng hành, đến trang cuối của hồ sơ thẩm vấn, đến lúc sửa ḿnh đối chất lần cuối với nhân chứng cuối cùng, chúng ta bỗng bàng hoàng - chúng ta là một đam mê vô ích - chúng ta cúi đầu: nhân chứng cuối cùng phải đối chất lại chính là lầm ĺ dáng lớn Nguyễn Du.

Tận cùng sâu thẳm lớp sóng Tiền Đường vẳng lên một khúc đàn quen thuộc. Khúc bạc mệnh Bốn dây rung khóc bờ sông vắng. Năm ngón khua nh́n bóng nước sâu Nhưng nơi Lưới Giác Duyên. Thúy Kiều rẽ sóng lên bờ. Thúy Kiều chấp nhận làm người.

Ôi!

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngă tự cư

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Độc Tiểu Thanh Kư)

Thật là:

Ḷng đâu sẵn mối thương tâm

Thoắt nghe Kiều đă đầm đầm châu sa

(Truyện Kiều)

Tựu trung, cái mà người ta muốn khám phá trong tác phẩm nghệ thuật, tôi nghĩ rằng cái đó vẫn ở đó, vẫn như thế, người đạt tới vụt đến, vụt đi, đến đó, đi đó. Như lai.

Anh Nguyễn Đ́nh Hoàng kính,

Khi tôi được hân hạnh đọc tập thơ Vịnh Kiều – Phong Vận Kỳ Oan của anh, cũng là lúc tôi nghĩ rằng chúng ta chỉ là một đám người tuy gần sạch nghiệp nhưng vẫn c̣n bị ám ảnh bởi một cái ǵ - một cảm giác mơ hồ về một hành-động-đă-lỡ, một gợn tâm tư, một h́nh-như-kỷ-niệm. Ở ngay hôm nay nảy mầm trong yên lặng, ở một kiếp nào dây dưa đến măi hôm nay. H́nh như, h́nh như tận cùng sâu thẳm tâm thức chúng ta, một vài mảnh hồn hoang vẫn c̣n ẩn náu, bởi c̣n quyến luyến hương và vị cuộc sống mà chưa chịu đầu thai. Có những đêm, tṛng mắt muốn khép kín bưng mà vẫn mở rộng, hút dán vào bước chân Thúy Kiều rời vườn Thúy t́m đến với chàng Kim, ta bỗng thấy bồng bềnh lạc vào một cơi lạ, lạ đấy mà lại như quen. Thế cũng đủ cho ḷng người diệu vợi chơi vơi. Có những nửa khuya, một cung đàn lẻ không chờ không đợi, bỗng dưng lọt kịp được vào cái nhịp xao xuyến tâm thức chúng ta, để trong một sát na ngỡ ngàng, ta ngẩn ngơ thấy ta không c̣n hẳn là ta, ta h́nh như đă là một cái ǵ, ta rồi ra h́nh như sẽ phải là một cái ǵ. Ta tưởng ta đă từng tri ngộ với Nguyễn Du. Và ta vịnh Kiều.

Đó. Anh thấy không? Cái đó... chính là cái đó! Và cũng là nỗi khổ của chúng ta. Chúng ta măi luẩn quẩn trong ṿng vây Kiều. Chúng ta ở muôn trùng ṿng quay luân hồi:

V́ em thôi cũng chiều thôi

Ái ân xin hẹn – ngậm ngùi kiếp sau

Trăng nghiêng nghiêng cả hồn nhau

Trinh nguyên ngày cũ – nỗi đau bây giờ

Mối t́nh thơ – mối t́nh thơ

(Trăng Nghiêng Nghiêng Cả Hồn Nhau)

Thơ cũng không ngoài cuộc biển dâu. Dây tơ thôi thế đă se tṛn, hoàn tất một cuộc đồng hành – Tiếng đàn tiếng thơ d́u nhau đă tới cuối hành tŕnh tâm sự một nàng Kiều lưu lạc, một Tố Như Cổ kim hận sự thiên nan vấn – Dây tơ đă thôi lưu luyến bàn tay vuốt nắn mà từng đốt, từng ngón đang buông thả dần dần tất cả cái tê buốt nhói đến tâm can, cái tê buốt khởi lên từ Vô cùng kim cổ thương tâm xứ hay yêu, hay thù, hoặc ngập lặn trong nhầy nhụa của trụy lạc – anh Hoàng ạ, có lúc nào con người xao lăng cái công cuộc khám phá phương cách để quên? Nhưng tôi nghĩ rằng quên chỉ là thỏa hiệp, quên không dứt khoát, quên không giải quyết. Vấn đề sẽ c̣n nguyên vẹn – nỗi tấm tức những mảnh hồn hoang, lẩn thẩn trong ta –- vấn đề sẽ lại đặt ra, ở một giây phút nào đó ngay trong hiện kiếp, ở một kiếp nào đó, nghiêm trọng hơn nhiều. Phải giải quyết, nghĩa là thanh toán cái đám u hồn tà ma ám ảnh chúng ta. Chúng ta có thể làm được việc đó, chính chúng ta, h́nh như chỉ chúng ta. Bằng viết. Viết như một truy kích tà ma. Viết như một vận dụng quyền uy phù thủy mà âm binh là những ngôn từ. Tôi biết rằng đă có những phù thủy v́ non tay ấn mà bị vật ngă bởi chính âm binh của ḿnh. Một người phù thủy tự trọng phải có gan dấn thân vào một hành tŕnh không thường (bắt buộc, v́ trong trường hợp chúng ta, phù thủy với con bệnh lại chỉ là một) nơi xuất phát là vùng ư thức sáng rực mặt trời manh nha tự cái riêng biệt của hiện tại hực sôi thế sự, (hẻm sâu tiềm thức đặc quánh ẩn ức chỉ là trạm nghỉ chân), nơi tới chính là trung tâm cơn lốc xoáy trôn ốc của mênh mang vô thức nguyên thủy mà hấp lực - cường độ tương xứng nhịp rung động tâm thức chúng ta - hấp lực có thể nghiến nát tất cả quá khứ lẫn vị lai, bóp vụn tất cả h́nh hài của vạn vật sinh sinh hóa hóa. Người phù thủy giữ vững tay quyết, mở ngỏ sáu giác của ḿnh, chiêu dụ cơn lốc nhập vào thân xác, choáng váng đảo đồng, trở thành cơn lốc, để rồi giữa cơn “túy lúy càn khôn", đánh vần từng tiếng, xếp lại thành câu, kiến trúc những thế giới rất thực mà lạ hoắc, xây dựng những vũ trụ hoang đường nhưng quen thuộc, nhào nặn những nhân vật tuy quái đản mà lại rất người, bố trí những thế sống vừa đặc biệt lại vừa thường nhật, để h́nh thành cái mà người đời thường gọi là tác phẩm. Phong Vận Kỳ Oan của anh đó, Nguyễn Đ́nh Hoàng.

Tôi không cười khi nghĩ rằng chúng ta là những thượng-đế. Bởi chúng ta sáng tạo.

Tôi không cười khi nghĩ rằng sau đó, chúng ta trở thành những vị A-la-hán. Bởi chúng ta đă vượt ra khỏi cái ṿng kiềm tỏa của nhân duyên bám rễ tự những hằng ha sa số kiếp nào. Bởi những u hồn lẩn quất trong ta, như những con trùng vi ti gặp sức đối kháng trụ sinh, khi con-đồng-phù-thủy đă tỉnh cơn say choáng váng, ng̣i bút dừng lại, tác phẩm thành h́nh, những u hồn đó sẽ ôm nhau than khóc, sẽ bồng bế rủ nhau đi khỏi thân xác chúng ta. Và chúng ta quay về với thực tại.

Tác phẩm thành h́nh. Chúng ta quay về thực tại. Nhưng, khi trang sách đă khép lại, th́ :

Tiếng đàn Kiều văng vẳng măi,

Vọng tới hôm nay

Vọng măi ngàn sau

(C̣n Vẳng Ngàn Sau Tiếng Đàn)

Khiến hồn thơ của Nguyễn Đ́nh Hoàng cứ muôn đời thổn thức Tố Như : Mấy trăm năm bật khóc rụng ngàn mây.

Sài G̣n cuối đông, 2007

VTĐL

________________________________________

Ghi chú :

(*) Những ḍng in nghiêng trích PHONG VẬN KỲ OAN.

Thơ Vịnh Kiều của Nguyễn Đ́nh Hoàng.

 

BÍCH NHĂN HỒ

vvvvvvvvvvvvvvv

GÓP TIẾNG KHÓC

ĐỨC ÔNG TỐ NHƯ

Lỡ tay đánh vỡ chén trời

Xuôi về đất Trích sống đời thi nhân

Tay tiên phóng bút nhập thần

Gieo cung tuyệt cú – ném vần thôi sao

(Lỡ Tay – Bích Nhăn Hồ)

 

 

âng. Nguyễn Đ́nh Hoàng và chúng ta đă "lỡ tay" đánh rơi chén ngọc, bị trời đày xuống trần, may mắn được làm thi sĩ, cũng c̣n có dịp cống hiến cho đời những vần thơ… trác tuyệt.

Sự "lỡ tay" của thiên tài Nguyễn Du mới thật khủng khiếp đă làm tốn hao biết bao giấy mực và nước mắt không chỉ "tam bách dư niên hậu" mà có lẽ đến thiên thu vạn đại: khóc thương Tố Như, khóc than thân phận Kiều và khóc tiếc Từ Hải.

Sự "lỡ tay" của Đức Ông đă được nhiều danh gia trước đây và bây giờ, trong và ngoài nước luận bàn nhiều. Kẻ hậu học này chỉ mạo muội điền thêm vài nét chấm phá vụng về gọi là chút ḷng thành "khấp Tố Như" thôi.

Thật vậy, Đức Ông đă thông thoáng cho phép Kiều "b́nh đẳng giới” lén sang nhà Kim Trọng – điều mà thời của nàng nghiêm cấm nhưng lại vô t́nh hay hữu ư tước đi cái quyền thiêng liêng nhất của phụ nữ là làm vợ và làm mẹ! Hơn thế nữa c̣n bắt nàng "sống làm vợ khắp người ta" suốt mười năm trời đăng đẳng họa hoằn lắm mới được những phút thư giăn khi làm "vợ bao" cho Thúc Sinh, ngắn ngủi làm sao và hồi hộp làm sao bởi tai họa luôn luôn sẵn sàng ŕnh rập quanh nàng.

Kiều và Vân là hai chị em sinh đôi

"…Đầu ḷng hai ả tố nga

Thuư Kiều là chị, em là Thuư Vân…"

Đây là một phát hiện của nhà thơ Trăng Cửu Long nên về cấu tạo sinh học hai nàng hoàn toàn giống nhau. Nhưng thay chị làm vợ Kim Trọng chẳng bao lâu Vân đă hạnh phúc tay bế tay bồng c̣n Kiều kể từ khi thất thân với Mă Giám Sinh cho đến lúc bị Hồ Tôn Hiến nài hoa ép liễu, qua tay biết bao nhiêu đàn ông mà vẫn hiếm muộn vô sinh. Cuộc truân chuyên của Kiều tát cạn khô nước mắt những ai có tâm hồn nhân bản.

V́ quá yêu Kiều, Đức Ông đă gả nàng cho đứa con mà người thương quư nhất: Từ Hải, một chàng trai nước Việt tuyệt vời ngạch trật thuộc hàng thượng hạng ngoại hạng. Từ được sinh ra không phải để chết… đứng. Hai cái gật đầu của bậc anh hùng là hai cái gật đầu định mệnh, một cứu nàng ra khỏi lầu xanh và một mở đường đưa nàng đoàn tụ với gia đ́nh.

Ấy vậy mà Từ vẫn chết. Từ phải chết. Chết để Đức Ông hoàn chỉnh bố cục tác phẩm hợp với khẩu vị thời phong kiến. Chết để cứu sinh mệnh Đức Ông khi mà hàng trăm cái đầu ba họ nhà Cao Chu Thần rơi lăn lóc trên pháp trường khiến Đức Ông nhiều lúc phải sờ lại gáy ḿnh.

Chúng ta yêu Kiều và Từ Hải đến nghẹt thở. Nhưng suốt cuộc đời của họ không hề đem lại cho chúng ta nụ cười và hạnh phúc mà chỉ khơi gợi thêm những nỗi xót xa, niềm ray rứt trăn trở tiếc thương.

V́ quá yêu hai nhân vật "trai anh hùng, gái thuyền quyên" điển h́nh ấy mà đám hậu sinh cố gắng gượng gạo tự t́m dăm nụ cười chống stress qua những buổi phiếm đàm gọi nôm na là "kháo Kiều".

Với tính hài hước cố hữu của "dân An Nam ta ǵ cũng cười", nhiều người t́m ra "mười thang thuốc bổ" xung quanh hai nhân vật độc nhất vô nhị này.

Theo dơi suốt gần ba ngàn câu Kiều, có kẻ rắn mắt nh́n thấy Kiều đi tiểu không chỉ một lần mà những… hai lần:

(1) "… Sè sè nấm đất bên đường,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh…"

(2) "… Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,

Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra…”

Trong số báo "Kỷ Niệm 201 Năm Sinh Thi Tài Nguyễn Du", nhà văn Vũ Hạnh dù không phải là bác sĩ phụ khoa, phán rằng Kiều đă cấn bầu… một lần!

"… Đầy sân gươm tuốt sáng ḷa

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao…"

Và, bên lề buổi giao lưu của giới văn nghệ sĩ tại Vĩnh Long, Quư Hữu phát hiện Từ Hải vốn là thương phế binh:

"… Một tay xây dựng cơ đồ

Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành…"

Rồi Trần Huệ Hiền công bố Từ vốn thuộc binh chủng Hải quân:

"… Quyết lời dứt áo ra đi

Gió đưa bằng tiện đă ĺa dặm khơi…"

Triều Nguyên ghi thêm vào bản Tướng mạo quân vụ của Từ là phi công của Hải quân:

"… Rằng Từ là đấng anh hùng

Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi…"

Hàn Cung Thương bổ sung cuộc đời binh nghiệp của Từ là trước đó Từ cũng một thời phục vụ trong binh chủng kỵ binh v́:

"… Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong…"

*

* *

Khóc Đức Ông không bằng học Đức Ông. Truyện Kiều đă vượt khỏi dải đất cong cong h́nh chữ S đến với bốn biển năm châu, đă được nhà nước đưa vào chương tŕnh giáo dục cho lớp "người tổ quốc mong cho mai sau", tưởng cũng nên đưa Đoạn Trường Vô Thanh của Phạm Thiên Thư và Phong Vận Kỳ Oan của Nguyễn Đ́nh Hoàng vào giáo khoa thư, mở ra hướng mới trong việc học Đức Ông. Đức Ông c̣n "nợ" độc giả bài tứ tuyệt khi tả Kiều:

"… Rút trâm sẵn giắt mái đầu

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần…"

Thử mở ra cuộc chơi mới:

"Hăy nhập vai Kiều sáng tác bài tứ tuyệt ấy".

Rồi luân chuyển cho nhau qua điện thoại di động b́nh, vịnh, họa, ngâm… Đó cũng là cách học Đức Ông vậy v́ "Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n, tiếng ta c̣n, nước ta c̣n" (PQ)

BNH

(0918656841)

 

 

ĐOÀN VĂN KHÁNH

vvvvvvvvvvvvvvvvvvvv

Tản Mạn Về

MINH HỌA MỚI

TRONG PHONG VẬN KỲ OAN

 

gày xưa, vào những lúc thư nhàn, bên lư trầm tỏa hương thơm ngát, các cụ ta thường hay mượn thể thơ Đường để vịnh Kiều xướng họa với nhau. Nay, nhà thơ NGUYỄN Đ̀NH HOÀNG (NĐH) vẫn nối bước tiền nhân nhưng bằng những nét đột phá mới và phải nói là… khá lạ!

Phần lớn các bài thơ vịnh Kiều của anh được viết theo thể thơ mới, thơ tự do và chính nó đă gây được ấn tượng mạnh với độc giả. Không những thế, ở phần tranh minh họa, NĐH đă hết sức mạnh dạn (nói theo ngôn ngữ giang hồ là xâm ḿnh) tŕnh làng từ tranh b́a đến các phụ bản minh họa Truyện Kiều mang phong cách manga Nhật Bản v́ thể loại truyện tranh manga này từ vài năm gần đây, khi du nhập vào Việt Nam tiếng khen được nhiều mà điều chê cũng lắm! Các tập truyện tranh manga đă bị một số dư luận lên án là kích thích bạo lực, t́nh dục gây nhiều tác hại đến độc giả – nhất là lứa tuổi trẻ thơ.

Từ ngữ manga (Nhật Bản), manhwa (Hàn Quốc) hay manhua (Trung Quốc) đều có gốc từ chữ Hán: “mạn họa” tạm giải thích là "lối vẽ phóng túng" lúc đầu được dùng trong biếm họa. Tranh manga đẹp đến gần như siêu thực và cũng rất phóng túng nhiều khi đến độ quái đản của các họa sĩ. Trong bài viết Manga Cái Nh́n Từ Hai Phía (chuyên đề truyện tranh hoạt h́nh 4A.M tập 17 tháng 10/2006, tác giả Hotwart cho rằng: "manga cũng là tác phẩm điện ảnh trên giấy với những kỹ xảo điện ảnh được sử dụng rất hiệu quả…”

Điều ấy không sai v́ phim hoạt h́nh anime và truyện tranh manga Nhật Bản có những ảnh hưởng giao thoa nhất định kể từ khi Osamu Tezuka bắt đầu vẽ truyện tranh theo lối làm phim hoạt h́nh. Thay v́ vẽ mỗi bức tranh là t́nh tiết của câu chuyện, ông vẽ từng hành động của nhân vật. Truyện tranh vẽ theo lối này ngay khi ra mắt độc giả lập tức được chào đón nồng nhiệt. Với cách tạo h́nh nhân vật có đôi mắt to đen long lanh lóng lánh diễn tả tâm lư nhân vật một cách dễ dàng theo lối tranh biếm họa, h́nh tượng này được giữ lại cho tới hôm nay.

Để thâm nhập vào lĩnh vực này, người viết xin giới thiệu hai bộ truyện tranh khá quen thuộc đă xuất hiện ở nước ta từ nhiều năm nay: truyện Thám Tử Lừng Danh Conan và truyện Thủy Thủ Mặt Trăng (Moon Sailor).

Thám Tử Lừng Danh Conan thuộc thể loại manga Shonen (thiếu nam) của Gosho Ayama là câu chuyện kể về thám tử học đường Shinichi bị kẻ thù đầu độc khiến cơ thể bé xíu chỉ bằng một cậu học tṛ tiểu học nên phải đổi tên là Conan. Nhờ trí thông minh, óc phán đoán tài t́nh, Conan đă khám phá được rất nhiều vụ án tinh vi, phức tạp. Nội dung diễn tiến liên tục phá hết vụ án này tiếp đến vụ án khác.

Thủy Thủ Mặt Trăng thuộc thể loại manga Shojo (thiếu nữ) tác giả Naoko Takenchi thuật lại cuộc chiến liên miên giữa nhiều tập đoàn khác nhau của trái đất cũng như các thiên thể khác với những nữ thủy thủ thuộc phe chính nghĩa như Mặt trăng, sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa… Các nhân vật nữ thủy thủ dù chỉ mới 14, 15 tuổi nhưng đều được các họa sĩ vẽ đẹp tuyệt trần, với các đường nét cực kỳ hấp dẫn trong những bộ váy áo hết sức tiết kiệm vải và… không thể ngắn hơn.

Các nhân vật nhí này lại yêu nhau da diết và hôn nhau bạo hơn cả người lớn! Đây cũng chính là điều khiến nhiều bậc phụ huynh không thể chấp nhận.

Tuy thế, hai bộ truyện tranh này không những không bị tẩy chay mà trái lại c̣n rất ăn khách tại Việt Nam và các nước trong khu vực nhờ các ưu điểm sau:

. các nhân vật chính đều nặng ḷng nhân ái, hướng thiện cao, có t́nh cảm bạn hữu chân thành. Điều này rất phù hợp với tâm hồn sáng trong của lứa tuổi mới lớn.

. truyện c̣n cung cấp cho độc giả (các em) nhiều kiến thức phổ thông bổ ích, dễ nhớ ví dụ dùng muối amonium sulfat làm đông cứng băng trượt trong thi đấu thể thao (truyện Vị Mặn Giết Người – Conan tập 50) hay phương pháp xác định vết máu đă khô lâu ngày bằng cách phun vào hoạt chất Luminol để tạo phản ứng oxyt hóa phát ra tia huỳnh quang màu tím… (Bữa Tiệc Kỳ Lạ – Conan tập 30). Ngoài ra độc giả c̣n được cung cấp nhiều kiến thức về nhật thực, nguyệt thực, tên các hành tinh trong tập truyện Thủy Thủ Mặt Trăng củng cố thêm kiến thức khái quát về vũ trụ.

Nhưng có lẽ điều lôi cuốn, làm cho các em yêu thích hơn cả chính là ở chỗ các tập truyện đều có nhiều tranh vẽ khá công phu và phải nói là đẹp! Chính từ niềm đam mê này đă tạo nên một đội ngũ đông đảo thanh thiếu niên tham gia các câu lạc bộ truyện tranh hoặc do nhà xuất bản lập ra như CLB Truyện Tranh Trẻ của nhà xuất bản Trẻ. Trên internet cũng có nhiều website pḥng tranh của cá nhân hoặc CLB như accvn.net, thanhdiamanga.net, truyentranh.com, cacviet.com …

Có lẽ đây sẽ là một trong các điều kiện tốt để phát triển anime manga của Việt Nam sau này.

Nh́n vào lịch sử truyện tranh Nhật Bản, phải chờ đến năm 1932 mới xuất hiện những thước phim hoạt h́nh "made in Japan" trong khi ngay từ năm 1915 ở Mỹ đă có những hăng phim hoạt h́nh hiện đại nhưng chỉ 75 năm sau, ngày nay anime manga Nhật đă nhảy vọt vượt qua cả những Walt Disney, Dream Works của Mỹ và trở thành một nền công nghiệp giải trí khổng lồ.

Hàn Quốc, năm 1967 mới chập chững bước vào cuộc chơi, nay tŕnh độ anime manhwa Hàn không kém ǵ con cháu Thái Dương thần nữ. Sở dĩ được như thế là nhờ kể từ năm 1997, cơ quan KOCCA phụ trách vấn đề văn hóa Hàn Quốc đă tài trợ 10 triệu USD mỗi năm cho các hoạt động phim hoạt h́nh, truyện tranh đồng thời dành riêng 1 triệu USD để tổ chức và trao giải thưởng cho liên hoan CICAF, liên hoan hoạt h́nh truyện tranh quốc tế hằng năm tại Séoul. (dựa theo tư liệu của chuyên đề truyện tranh và hoạt h́nh 4A.M, tập 10 – tháng 3.2005 – nhà xuất bản Văn Nghệ)

Trung Quốc khai thác các pho tiểu thuyết lịch sử chương hồi (Tam Quốc Chí, Thủy Hử…) và tác phẩm đồ sộ của Kim Dung làm nền, nên truyện tranh của họ rất quen thuộc, hấp dẫn và chỉ trong ṿng hơn chục năm đă có những thành tựu đáng kể. Manhua Phong Vân của Mă Vĩnh Thành là truyện tranh rất hay, được chuyển thể thành phim truyền

h́nh, phim nhựa (do các diễn viên đóng) làm say mê đông đảo khán giả.

Manga Nhật, Manhwa Hàn chuyển thể sang phim hoạt h́nh, phim do các diễn viên đóng cũng khá nhiều như Black Jack của Osamu Tezuka (phim hoạt h́nh), Nana của Ayazawa (phim diễn viên đóng), Ngôi nhà hạnh phúc (Full house) của Won Seo Young (phim truyền h́nh), Hoàng Cung (Goong) của Park So Hee (phim truyền h́nh). Hai phim sau của Hàn Quốc đă được công chiếu trên nhiều kênh truyền h́nh ở nước ta.

Manga đă thực sự trở thành một nền công

nghiệp giải trí lớn, một món ăn tinh thần không thể

thiếu trong cuộc sống hiện đại.

Trước yêu cầu trên, ở Việt Nam, Chuyên Đề Truyện Tranh Và Hoạt H́nh 4A.M (For anime manga) của nhà xuất bản VĂN NGHỆ, các tạp chí T3 (Truyện Tranh TRẺ ) của nhà xuất bản TRẺ nhanh chóng ra đời, là diễn đàn để giao lưu, khám phá, khuyến khích và nâng đỡ các tài năng hội họa trẻ.

Như thế với PHONG VẬN KỲ OAN – một tác phẩm văn chương mang hơi hướm cổ điển, NĐH đưa tranh b́a vẽ bộ ba Kim – Vân – Kiều và sáu bức tranh minh họa cảnh Kiều ở lầu Ngưng Bích, Kiều bị trận đ̣n của Tú Bà, Kiều gảy đàn hầu vợ chồng Thúc Sinh, Kiều gặp Từ Hải và đặc biệt là những nàng Kiều thời hiện đại mang phong cách manga do Nguyễn Đ́nh Thụy Anh, một nữ sinh viên yêu manga, trẻ măng về tuổi đời lẫn tuổi nghề dốc công sáng tạo, cũng là thể hiện sự đồng hành của anh – một nhà thơ "U cổ lai hy" với trào lưu văn hóa mới.

Biết đâu, một ngày nào đó thật gần, với óc tưởng tượng phong phú của các tài năng trẻ mangaka Việt Nam, Thuư Kiều lại thêm một lần nữa sẽ hóa thân thành nhân vật diễm lệ tuyệt vời mà cũng hết sức đau thương, bi lụy như khi nàng trong bữa tiệc khao quân của Hồ Tôn Hiến:

"Gió đưa lá rụng chiều mưa

Tay vừa gạt lệ tay vừa thoa son

Mộ chàng trồng vội cỏ non

Phấn hương lộng lẫy mà hồn chết khô "

(trích thi phẩm Sáng Muôn Trăng - ĐVK).

Kiều đă từng được cụ Nguyễn Du “thả một bè lau" cứu vớt nàng vượt thoát khỏi khuôn khổ hẹp mọn của nguyên tác mà Thanh Tâm Tài Nhân c̣n non tay lỡ tạo nên (*)… hy vọng Kiều sẽ là một manga Việt tân kỳ, hiện đại.

ĐVK

________________________________________________

(*) GHI CHÚ:

Trong "Quán Hoa Đường Kim Vân Kiều Lục”, Thanh Tâm Tài Nhân vẽ lên một h́nh ảnh Thúy Kiều hết sức tàn độc khi báo oán: Mă, Sở, Tú Bà, Ưng Khuyển, Bạc Hạnh, Bạc Bà đều phải chịu những h́nh phạt ghê rợn như nhồi nhựa thông vào bụng châm lửa đốt, băm nhỏ thi thể… Riêng với Hoạn Thư, cho dù lư lẽ biện minh khá vững vàng, Kiều nào có tha suông mà vẫn sai cung nữ đánh Hoạn Thư đến 100 roi ngựa tóe máu. Kế Thị (mẹ Hoạn Thư) kinh hăi quá mà chết.

Theo cụ Trúc Viên Lê Mạnh Liêu trích và dịch Thúy Kiều Truyện Tường Chú – Chiêm Vân Thị:

"Phu nhân đê thủ di thời đạo: dục thực nễ nhục dĩ tiêu ngă hận! Nễ sở dĩ bất tử giả, khứ tắc bất truy, thượng hữu khai lung phóng điểu chi ư. Nễ chi hoạt tôi, tự bất năng miễn hỹ. Lệnh cung nữ chấp mă tiên đả nhất bách, thủy phóng khứ.”

"Phu nhân cúi đầu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Vẫn muốn ăn thịt ngươi để tiêu sự căm giận của ta, ngươi mà được khỏi chết là ở sự ta đi mà không đuổi, c̣n có ư mở lồng thả chim nhưng tội sống của người th́ không thể tránh khỏi được. Liền sai cung nữ lấy roi ngựa đánh một trăm roi mới cho về”

Bỏ Thanh Tâm Tài Nhân về ngụ cư trong luỹ tre làng quê Việt với cái TÂM cái T̀NH của Tố Như tiên sinh, tuy vẫn chưa xả được hết niềm hận thù sắt máu bao năm canh cánh bên ḷng nhưng dù sao th́ Kiều cũng đă biết điều hơn lẽ thiệt, ân đền oán trả phân minh và tính nết có phần mềm mỏng, nhu ḿ hơn xưa lắm rồi./.