Ngụ Ngôn
Trích “Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng”
Doãn Quốc Sỹ sưu tập

 
Ảnh Doãn Quốc Sỹ tại Âu châụ


Thơ Ngụ Ngôn
Nguyễn Trọng Thuật

Cuốn “Thơ Ngụ-ngôn” của ông xuất bản năm 1928 tại Hà-Nội chia làm 2 quyển. Quyển nhất gồm những bài do chính ông sáng tác, quyển hai gồm những bài ngụ ngôn cổ của nước Tàu và nước ta do ông diễn giải.

…. Có thể nói Nguyễn-trọng-Thuật cùng Nguyễn-văn-Ngọc và Nam-Hương là ba nhà viết ngụ-ngôn mới sớm nhất, sau khi ta thật sự tiếp súc với trào lưu văn học Tây Phương do việc Pháp tới đặt nền đô hộ lên nước Việt nhà.

…. Dưới đây xin tuyển chọn bài ngụ ngôn do chính ông sáng tác. (Nam phong số 120, tháng 7, 1927)


HAI MẸ CON VỚI MIẾNG SẮT

Bà mẹ đứng xem con đang học,
Coi ra chiều khó nhọc ươn oai.
Bà đưa cho miếng sắt dài,
Rằng : “Đem ra đá mà mài thành kim.”

Cậu cầm lấy vừa nhìn vừa ngại,
Bà giục luôn cậu phải đem ra.
Mài răm ba cái qua loa,
Rằng : Con mài dẫu đến già không xong.

Bà khẽ nói con trông xuống đá,
Có thấy gì dính đá hay không?
Cậu rờ tay xuống thưa rằng:
Có ít mạt sắt sáng chưng đây rồi.

Bà cười nói : Con ơi coi đó,
Sắt đã mòn, mài nhỏ khó chi.
Thành kim cũng chẳng lâu gì,
Suy ra đến sự học kia khác nào.





Thơ Ngụ Ngôn
Nguyễn Văn Ngọc

Đông Tây Ngụ Ngôn của Nguyễn Văn Ngọc xuất-bản năm 1927. Quyển sách mang nhan đề này vì tác giả đã mượn những đề tài ngụ ngôn bất kể Đông phương hay của Tây phương mà đem phô diễn theo tiếng Nam, cố giữ cho hợp với tinh thần tiếng Nam.

…. Hai bài ngụ ngôn sau đây trích trong “Ngụ Ngôn”, Tứ Dân Văn Uyển, tháng 10, 1935.

NGƯỜI BUÔN CHĂN

Chú lái buôn chăn cưỡi con lạc-đà,
Qua nơi đồng cát, đàng còn xa.
Không may lạc đà bị chết khát,
Tiếc của anh ta lột lấy da.

Coi da quý báu, giặn đầy tớ,
Gìn-giữ đừng cho nước thấm qua.
Đầy tớ vâng như lời chủ dặn,
Giữa đường bỗng gặp cơn mưa sa,
Lấy chăn bọc kẻo da đà ướt,
Da đà không ướt, ướt chăn hoa.
Chăn bị nước mưa, thành nát hỏng
Bao nhiêu vốn liếng đi đời ma.
Rõ tham một mảnh, bỏ cả gói,
Chú lái buôn chăn sao dại mà.



SƯ TỬ VÀ CON CHIM NON

Vua sư-tử vuốt nanh lẫm-liệt,
Các thú cầm len-lét sợ oai.
Gầm lên một tiếng lưng trời,
Quanh vùng cọp nép, nửa vời chim sa.
Một hôm bắt voi ngà ăn thịt,
Miếng giòn, toan nhá hết cả xương.
Ngờ đâu nhai nuốt vội-vàng,
Chiếc xương mắc ngạnh nằm ngang dưới hầu.
Vua sư-tử lắc đầu há họng,
Chợt chim con bay bổng xa khơi.
Rằng : “Ơi hỡi ! hỡi chim ôi !”
Mi vào miệng chúa tìm tòi gỡ xương,
Hết lòng cấp cứu lương phương,
Được mồi, sau chúa sẽ nhường cho luôn.”
Chim nghe nói bay luồn vào cổ,
Gạy mỏ liền rút mổ xương ra.
Khen : “Sao thuốc hóc giỏi mà!
Ơn này chúa giả đến già dám quên.”

Vua sư-tử sau liền khỏi bệnh,
Các chim bay, thú mạnh tìm ăn.
Cao lương, mỹ vị vô ngần,
Chim con vội đến kể ân trước, đòi.
Sư-tử bảo : “Ta nòi sơi thịt,
“Từng ăn tanh, uống huyết đã quen.
“Như mà chút phận nhỏ-nhen,
“Lọt vào miệng, lại đề tuyền cho ra.
“Mày không biết ta tha là tốt,
“Nên nay còn sống sót mạng kia.
“Ơn ta chưa chút giả về,
“Lại còn nỏ mỏ chi hề kể ơn?”
Chim nghe nói nguồn cơn năn-nỉ,
Sư-tử còn nhất vị không nghe.

Chim đành phải chịu một bề,
Phận mình bé mọn, dám hề cậy răng.
Bèn chắp cánh về rừng nín lặng,
Chờ đến khi giời vẳng non cao.
Vua đang giở giấc rừng đào,
Liền đưa mỏ sắc mổ vào con ngươi.
Sư-tử chết rẫy-rời kêu rộ,
Hỏi : “Sao mày dám mổ mắt ta?”
Con chim đậu chót ngành hoa,
Rằng : “Xưa ông hứa những là làm sao?
“Tôi sở dĩ mổ vào con mắt,
“Không phải là oán vặt thù riêng.
“Muốn ông kẻ cả thần thiêng,
“Nói lời vàng đá, giữ diềng chớ sai.
“Đòn đau, nhời phải nhớ nhời,
“Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.”

(Chú thích: Bài này lấy ý trong bài ngụ ngôn “Con Sói và Con Hạc” của Esope)
 


Thơ Ngụ Ngôn
Nam Hương

Trong ba nhà thơ ngụ ngôn đồng thời này (Nguyễn-trọng-Thuật, Nguyễn-văn-Ngọc và Nam-Hương) phải công nhận thơ ngụ-ngôn Nam-Hương là toàn bích hơn cả. Ở lãnh vực này cũng như ở những lãnh vực những bài hát trẻ em của ông, lời thơ luôn luôn gọn-gàng và trong sáng, ý thơ xây dựng, thật rất xứng đáng dùng làm sách giáo khoa.

…Những bài ngụ ngôn sau đây chỉ trích trong tập “Ngụ Ngôn Mới của Nam-Hương” , Tứ-Dân Văn-Uyển, tháng 12, 1935



TRE VÀ TRÚC

Nhân một bữa tre than cùng trúc:
“Cơ mầu này có lúc hết tre:
“Người ta chẳng biết kiêng dè,
“Làm nhà, làm cửa, đóng bè, cũng tôi.
“Nào đan rổ, đan thời
* , đan sọt,
“Nào làm sào, làm cót, làm thang,
“Lại còn đan thúng, đan sàng …
“Đẵn nhiều đến nỗi tan-hoang cả vườn”
Trúc nghe nói cảm thương gạt lệ,
Nhủ tre rằng : “Nghĩ thế mà chi!
“Cuộc đời thay đổi luân ly,
“Tre già măng mọc, lo gì mai sau!”

* Thời : đồ đan bằng tre để nhốt cua, cá, ếch nhái



THỊT VÀ XƯƠNG

Bộ xương nhiếc bắp thịt:
“Nếu chẳng có ta đây,
“Thì anh rơi rụng xuống,
“Như một đống bùn lầy.
“Còn đâu là mặt mũi!
“Còn đâu là chân tay!
“Còn đâu là vẻ đẹp!
“Còn đâu là nết hay!
Bắp thịt ung dung đáp:
“Nếu anh chẳng đỡ-đần,
“Tôi đành thân vô dụng;
“Đâu có mặt cõi trần!
“Nhưng nếu tôi đây chẳng
“Gom-góp một đôi phần;
“Thì trơ xương với xẩu,
“Anh cũng bất thành nhân”



NGỰA VÀ KIẾN

Ngựa ô bước một trên đàng,
Chốc lưng quẩy một gói hàng khá to,
Vừa đi vừa thở phì-phò,
Liếc trông đàn kiến đang bò dưới chân.
Hỏi rằng : “Bớ lũ tiểu nhân !
“Chúng bay đàn-đúm nhau khuân vác gì?
“Mà như chẳng vất-vả chi,
“Hay là thần thánh phù trì chúng bay?”
Kiến rằng : “Nói để người hay,
“Chúng tôi tha đám trứng này như chơi;
“Là vì con của chúng tôi,
“Tuy rằng nặng nhọc mà coi nhẹ nhàng.
“Còn như người ngựa tải hàng,
“Hàng thiên hạ tải nên càng nặng thêm.
“Việc mình coi nhẹ như tên,
“Việc người như núi Tản-viên đè mình.”



MÁY BAY VÀ ĐÀN NHẠN

Phi cơ cưỡi gió đè mây,
Nhác trông đàn nhạn đua bay nực cười :
“Chúng bay phỏng được mấy hơi,
“Cũng bay cũng lượn để đời cười cho !”
Nhạn rằng : “Anh cậy anh to,
“Tự anh làm được nên trò gì không?
“Chẳng qua nhờ sức phi công,
“Thả ra, xuống bể xuống sông đi đời.
“Ta tuy hèn mọn thế thôi,
“Đã từng đi khắp mọi nơi xa gần.
“Tự mình thân lập lấy thân,
“Làm ăn bay nhảy rộng chân hơn người.”
Mấy dòng nhắn nhủ, ai ơi !
Bước đường đã phải cậy người dắt đi,
Xin đừng lên mặt nữa chi!



LỬA VÀ GIÓ

Lửa vừa mới bén lên,
Gió đâu đến đứng bên,
Phồng mồm toan thổi tắt,
Lửa bèn giở khoé vặt
“Tôi non-nớt nhường này,
“Nỡ nào bác quá tay!
“Xin hãy đi nơi khác,
“Lát nữa, tôi tiếp bác.”
Gió nghe hót gật đầu,
Đứng lặng một hồi lâu.
Được dịp lửa hăng hái,
Từ phên leo lên mái.
Thấy mình đã “khoẻ quân”
Lửa thách gió lại gần.
Gió đùng đùng nổi giận,
Lấy gân mồm thổi rấn,
Nhưng càng thổi bao nhiêu,
Lửa càng bốc như diều…
Cửa nhà quanh vùng ấy,
Đều ra gio cả dãy.
Cái hại mới nhú đầu,
Muốn trừ có khó đâu !
Nhưng nếu coi là bỡn,
Để hại ngày một lớn,
Muốn trừ chỉ thêm lo,
Như cháy gặp gió to.



HỒNG VÀ BÀNG

Trong vườn, về phía góc tây,
Có cây bàng lớn với cây bích-hồng.
Hồng thì xinh-xắn dễ trông,
Bàng thì che mát một vùng chung quanh.
Hồng rằng : “Nhác thấy quan anh,
“Tủi thân non nớt lá cành nhỏ-nhen.”
Bàng rằng : “Em dẫu đơn hèn,
“Bông hoa hồng thắm một phen ra đời,
“Hương bay ngào ngạt mọi nơi,
“Vườn này thêm vẻ tốt tươi cũng vì…”
Người đời lấy đấy mà suy,
Bé thì việc nhỏ, lớn thì việc to.



GẠCH VÀ NGÓI

Gạch hỏi ngói : “đôi ta dù khác,
“Mà giống nòi chất phác như nhau;
“Cớ sao bất cứ đâu đâu,
“Các cô cũng ở trên đầu chúng tôi?
“Hay trần thế lắm người tây vi,
“Khiến đôi mình kẻ quý người khinh.”
Ngói rằng : “Anh chửa thấu tình,
“Hai ta mỗi đứa một hình trời cho.
“Anh lực lưỡng, việc to gánh vác,
“Xây bức tường nhà gác nguy-nga.
“Mong manh như thể đàn bà,
“Che mưa đỡ nắng ấy là phận tôi”.



DIỀU VÀ GIÓ

Diều vằng tăm tắp trên không
*
Nhìn qua xuống đám bụi hồng mà khinh.
Thấy người ta ngợi khen mình,
Lại càng lên mãi như hình không ai.
Gió bèn đến cạnh rỉ tai :
“Công ta khó nhọc nghĩ hoài uổng thay!
“Vì ta mi mới lên đây,
“Mà giương thẳng cánh, mà bay giữa trời.
“Thế gian đứng dưới cõi đời,
“Ai ai cũng chỉ một lời : “Diều lên.”
“Đến khi trời lặng gió yên,
“Diều vằng đâm ngả bổ nghiêng xuống đồng.”

*Những diều cỡ lớn mang sáo lớn gọi là diều chiêng; mang sáo cỡ trung hay nhỏ gọi là diều sáo. Còn vằng hình cánh cung nhỏ, căng lạt chuốt thật mỏng : khi diều bốc lên, gặp gió, tức thì quãng lạt căng đó rung động như cánh chuồn chuồn và phát thành tiếng nghe rất vui tai.
 



ĐẦM VÀ SÔNG

Một hôm đầm hỏi sông:
“Sao anh cứ chạy dông?
“Anh chẳng xem tôi đó,
“Ở yên có được không?”
Sông nghe bèn đáp lại :
“Nhời anh nói cũng phải;
“Nhưng tôi lại nghĩ rằng
“Ở dưng thường có hại.
“Như anh quen ở không,
“Mặt nước tuy có trong,
“Nhưng vì không chuyển vận
“Chất bẩn đọng trong lòng.
“Như tôi ưa sinh hoạt,
“Bèo nước trôi tan nát,
“Nhưng mà ruột sạch tinh,
“Là vì chảy lưu loát.
“Nước tôi bởi tự nguồn,
“Mặt trời chiếu thấu luôn,
“Da đỏ và người khoẻ,
*
“Vui-vẻ chớ không buồn.”

* Ý hẳn tác giả nói về sông Hồng-hà




MÈO CÁI GIÀ ĐEO CHUỖI TRÀNG HẠT

Chuột con đứng thập thò cửa tổ.
Gọi mẹ ra xem mụ vãi mèo.
Vừa mừng vừa gọi vừa reo :
“Mẹ ơi! Bà cụ Mãn đeo chuỗi tràng.
Miệng lẩm-bẩm cụ đang niệm Phật.
Bước khoan thai rõ thật hiền lành.
Từ rầy cụ đã tu hành.
Từ bi cụ chẳng sát sinh nữa rồi.
Gớm chuỗi hạt quý ơi là quý.
Bằng minh châu hay mỹ ngọc gì?
Con ra “Bạch cụ” ngoài kia.
Con xem chuỗi hạt rồi đi kiếm mồi.
Chuột mẹ vội rằng : “Thôi con chớ
Chớ vội tin mà lỡ đấy con”
Chuột con tính trẻ bồn chồn,
Không nghe lời mẹ chạy bon khắp nhà.
Mèo hấp tấp chồm ra vồ hụt,
Phúc bảy đời chú chuột tí hon.
Nguyên vì mèo nọ chui luồn,
Chui phải chuỗi hạt quàng luôn vào đầu.
Chớ mèo có tu đâu chăng tá,
Mà chuột con vội-vã tin ngay.
Các em nhỏ nhớ lời này:
“Tin đạo đức giả có ngày khốn thân.”




Cách ngôn tục-ngữ ngụ-ngôn-hóa
Nguyễn-tài-Năng

Ngoài ra chúng ta còn thường được đọc trên các báo đây đó những bài ngụ-ngôn quảng diễn rất khéo léo những câu cách-ngôn tục-ngữ cửa miệng như “gần mực thì đen”; “ếch ngồi đáy giếng”; “lấy thúng úp voi”; hay :
“Chim chích mà ghẹo bồ nông,
Đến khi nó mổ lạy ông tôi chừa.”

Ba bài đầu của tác giả Nguyễn-tài-Năng, trích trong tuần san thiếu nhi Tuổi xanh (1961); bài chích chích với bồ nông” khuyết danh.



CON KÉT

Két thường học nói cả ngày
Gần người thô tục két hay chửi thề
Được người đạo đức đem về,
Két luôn vâng dạ mọi bề đáng khen.
Rõ là gần mực thì đen
Gần người bạn tốt ta bèn tốt theo.

 


CON ẾCH

Giếng hang quanh-quẩn ngu đần
Ếch chưa biết được xa gần mấy nơi
Không cùng tiến bộ với đời
Eách ngồi đáy giếng thấy trời bằng vung
Hay đâu đất rộng vô cùng,
Mênh-mông biển học vẫy vùng mới nên.



LẤY THÚNG ÚP VOI

Trùm voi bằng thúng được đâu
Voi to thúng nhỏ hở đầu lòi đuôi
Chớ hòng lấy thúng úp voi,
Xấu mà che đậy cũng lòi xấu ra.
Chi bằng em cứ thật-thà
Lỗi thì nhận lỗi rồi ta sửa mình.



CHIM CHÍCH VỚI BỒ NÔNG ( khuyết danh )

Lũy tre có chú bồ nông,
Rủi khi rét lạnh nghỉ không kiếm mồi.
Chích đâu lại đậu gần nơi,
Thoạt tiên chích đã rụng-rời chân tay.
Sau thấy nông đứng ngây như tượng
Chích hoàn hồn bay lượn đến gần.
Dần-dà ra ý làm thân,
Mổ đuôi, kéo cánh, rỉa chân, cưỡi đầu.
Nông thấy vậy giận đâu đem lại,
Mổ chích ta một cái đáng đời.
Chích đành lăn khóc vang trời :
“Lạy ông tha thứ nay tôi xin chừa!”


 

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved