Ý THỨC BẢN THẢO
2007


HOA
T H Ờ I
G I A N


THƠ HỒ THANH NGẠN






Cau không vôi
Lá trầu sầu
Ai biết?


Hô Thanh Ngạn






NỘI DUNG

Thay Lời Mở
HOA THỜI GIAN
Để Mở Đầu1 - Một thời Thơ
Để Mở Đầu 2 - Hoa Nắng Bốn Mùa

1. TÌNH TRĂNG
2. KHUNG MÀU THỜI GIAN
3. NHƯ TIẾNG THỞ DÀI
(A HEAVING SIGH)
4. VẾT HẰN THƯƠNG
5. VÔ HỐI
6. CỘI BÀNG
7. GHI DẤU MÀU THỜI GIAN
8. DẶN CON NGÀY GIỖ TỔ
9. CON SÂU TRONG MẮT
10. VỊ NGHỆ THUẬẢT CHẤM PHÁ
11. TIẾNG HÉT CÂM
12. NHÂN VẬT SÁU MIÊN
13. THOÁNG TIN XA
14. “HỒN THU THẢO”
15. VỌNG PHƯƠNG NAM
16. TÌNH ĐẤT
17. NƠM TRĂNG
18. BÓNG THỜI GIAN
19. MẢNH VỠ TRONG SUỐT
20. SINH NHẬT EM 55
21. TRINH NỮ
22. GIẤC MƠ BÉ
23. GIỌNG MƯA
24. GIỌNG U
25. HOA NHÂN SINH
26. BIẾN TẤU THƠ THẤT NGÔN
27. LUẬT THỨ BA
28. ĐUỐC BIỂN
29. BIỂN LÁ VÀNG
30. NGƯỜI EM BÊN BỜ THỦY LỢI
31. MẤY THƯƠNG
32. TÂM PHÀM TÌNH
33. NỢ NGHIỆP
34. DƯ HƯƠNG THỜI GIAN
35. MEN CHIỀU TÍM
36. NGÔI SAO CỦA TÔI
37. HƯƠNG HOA HƯ
38. HỒN TIẾNG QUỐC
39. BẤT ĐẮC BẤT NHIÊN
40. SẮC MÀU THỜI GIAN
41. HƯƠNG THỜI GIAN
42. HƯƠNG TÌNH YÊU
43. NỤ THỜI GIAN
44. HOA HỒNG TRẮNG
45. RẰM, TRĂNG A-LẠI-YA
46. GIA PHẢ ĐỂ LẠI ĐỜI SAU
47. HỒ LÊ NHƯ NHIÊN
48. TẤM BIA KHÔNG Ở VĂN MIẾU
49. HOA THỜI GIAN
50. KHÓC TRẦN THƯƠNG BÁ
51. BÓNG HÀI
52. BÓNG HÀI TỤC BIÊN
53. TUỔI THƠ HOA GIÁP
54. DI CHỈ RÌU ĐÁ Ở TÀ-IN
55. HỒN CỔ TÍCH
56. HUYẾT HOA
57. HÀNH TINH NHÂN LOẠI
58. HOA SINH NHẬT
59. HOA ĐƯƠNG THỜI
60. ĐỒI Y HƯƠNG HỒ
61. CỘI TUNG NAM CÁT TIÊN
62. NGỌC THÁNH GIÁ

Phụ Lục THAY LỜI BẠT





Thay Lời Mở
HOA THỜI GIAN


Để Mở Đầu 1

MỘT THỜI THƠ


Thơ một thuở
Thời muôn thuở

Tiếc chi, thơ,
thời một thuơ.ũ

Tiếc chi, thời
Thuở ấy thơ.

Một thời
hồ thanh ngạn.






Để Mở Đầu 2


HOA NẮNG BỐN MÙA



Sợi nắng soi,
rơi một giọt.

Giọt nắng,
vơi tơ trời hoa trắng.
Sợi tóc trắng,
phai
môi em thắm.
Sợi tóc mơ,
vương vương nắng,

Nắng phai, thời gian phai.



TÌNH TRĂNG



Ôi mặt Trăng
Ngàn ngàn năm
Mơ trái Đất.
Ôi trăm năm, tình yêu có thật.

Lung linh Trăng lúc đứng lúc nằm
Lúc lặng lẽ Trăng mơ hồ đâu đó
Sáng Trăng mơ mơ tràn bày tỏ
Trăng vỗ về mơn nhẹ lời ru.

Ôi Trăng mơ
Anh là trái Đất.


(PHỤ BẢN THÂN TRỌNG MINH:Trí tuệ và Tĩnh thức )



KHUNG MÀU THỜI GIAN

Bốn mươi ba năm tìm thấy lại
Mây trên tóc giấu chút tình xưa
Mắt vẫn cười nửa nét mắt mơ
Đời trĩu nặng một thời tang hải.

Tê tái còn đây còn mê mãi
Khung màu cũ vẽ chồng năm tháng
Mắt dẫu mờ nửa cuộc trần ai
Nửa cuộc buồn vui tiếng thở dài.

Bạn, ôi một thời, có kẻ đi
Kẻ ở, và mãi … kẻ đã về
Cõi yên nghỉ gần gũi đâu đây
Tấc lòng lắng xuống chút tình si.
Bước oméga,
Nửa nét mắt mơ, thời chung cuộc
Nửa không đành một lần hẹn ước
Bút giá rung rinh màu nhợt nhạt
Chìm trong sâu sen trắng hay hồng?
Màu Thời Gian lay động phương Đông
Hào yên nghỉ mầm sinh chỗi dậy
Khởi bước alpha,
Khu nhà mồ tượng buồn đứng đấy.

Vẫn gần gũi quanh đây
Màu trên tóc giấu chút tình mây.

 



NHƯ TIẾNG THỞ DÀI

Đội 2 Chăn nuôi
Đồng Hòa, Bình Long, Sông Bé – 1987.

How bitter my fate is in the jail
I feel sorry for the useless life
With wounds cut deep without knives
Painful legs in chains
I sadly watch the time fly.

I’ve been paving for a further life
Who knows yet the destiny denies
And yet the better life’s gone with the wind.
I’m still a loser in life misunderstanding
Who knows it would be a willing hidden
Of how glorious the past youngling was ?
From then on, all’s been over and expected no more.


Forget your sorrow and all,
Dry your teary eyes,
And let your lonesome feeling wiped
From depth of your entire heart.


Is that time past ?
How was education without schools ?
And ‘till people willing brain wash
How dark will it be re-education camps tossed ?
I feel regret for days and months passed by.
Lonely in the dark
I happened to catch a heaving sigh.




A HEAVING SIGH
Chuyển ý lời thơ tiếng Anh
“Như Tiếng Thở Dài”, Đồng Hòa,1987.
Tp. HCM. 1998

Cay sao phận số tù đày
Đắng sao thương cảm một đời bỏ đi
Dao chẳng cắt vết thương ghi
Chân gông xiềng xích thầm thì nỗi đau
Thời gian bay đáy mắt sâu.
Tôi ngồi lặng ngắm mối sầu thời gian.

Một đời sắp sẵn lên đường
Vươn thêm cao, thỏa ước nguyền đời tôi
Ai dè gió cuốn nổi trôi
Mong hơn nào được mệnh tôi chối từ.

Cảm thông chi cõi tâm tư
Ẩn tiềm ước nguyện thuở từ thanh xuân
Thì thôi, mất mát tôi còn
Qua rồi, ai thấu huy hoàng tuổi xuân ?
(Dòng sinh mệnh cõi hồng trần) (*)
Đành thôi từ đấy nỗi lòng còn chi.

Quên đi, ngươi hãy quên đi
Ngàn sầu ngấn lệ dù tê tái lòng
Lau khô sạch cả cô đơn
Thâm sâu trọn cả cõi hồn của ngươi.


Tầm trí dục, khuyết khuy trường học
Người muốn người tẩy lọc tư duy
Ngả nghiêng lán trại làm chi
Tối tăm ngày tháng tiếc chi tháng ngày
Hỏi thời gian, thời gian trôi ?
Quạnh hiu bóng tối mình tôi
Chợt buông kịp bắt tiếng tôi thở dài.

(*) tâm thức tiềm ẩn, không có trong lời thơ tiếng Anh.



MÀU THỜI GIAN
VẾT HẰN, THƯƠNG.

Cảm tặng nhà thơ Nguyễn Hải Phương.

Phong kiếm lại hồn ai cao ngất
Ta một thời chất ngất nỗi đau
Hòa hội nhập mấy vơi niềm sầu
Dòng sinh sử, sử vơi đầy sử.

Từ dạo chia ly ai tình tự
Ca dao giữ, trăng sao mơ ước
Giáo khoa thư một thời lỡ thuộc,
Thầy lau kính, thoáng ước mơ sau.

Mẹ cha cho ai vẫn lao đao
Thuở tiên thiên lỡ hằn dấu sử
Khóc cười trải, lấy ai tình tự
Tiết điệu lắng im, thiếu nỗi đau.

Đê-ca-hát
Phải ta quen ?
Tiếng hát xa hẳn niềm sầu.
Thái–A gói lại
Gió diều lên tiếng sáo,
Ca Dao xưa, Gió Đáy (1) một thời đau.

Nghiệp và nghiệp
Phải,
Ta đã quen.
Không phải vũng nước nhân sinh,
Khi phong kiếm
Là cả tâm tình gói lại
Một thời gói lại.

Cau không vôi, lá trầu sầu
Ai biết ?


Cảm xúc bài HÀNH TRANG (Thi phẩm Dặm Về)
Thơ Nguyễn Hải Phương tặng ĐKH.
Tháng 8, 1998.


(1) Tên nha xuất bản, thập niên 40

MÀU THỜI GIAN
V Ô H Ố I

Tết chi mấy cánh mai đào
Xuân phai, xuân thắm lọt ngoài chấn song
Thời gian trôi mãi ai mong?
Chỉ ngũ sắc cuốn ngược dòng nổi trôi.
Không mong rồi sẽ luân hồi
Miên miên xao động cũng rồi lặng câm
Vói tay cột đám phù vân
Tìm trong tịch lặng bước thầm lối hoa
Lắng nghe chừng chút bao la
Lửa hương có thật, phôi pha nguyện cầu?
Tìm chi đáy nước lắng sâu
Dù hương phai lạt lửa sầu lạnh tanh.
“Tượng” trông lên, trông xuống mình
Hình hài là đất bóng hình “Càn Khôn”


Ngỡ ngàng chi xuân nở tàn
Sớm hôm vò võ bàng hoàng quốc, quyên.
Quốc xưa, tiếng quốc gọi tên
Thấm sầu mấy cõi miên miên vơi đầy?
Còn đâu đầu núi áng mây
Vời trông vọng bóng mắt cay bóng chiều
Tiếc chi Xuân, vá áo thêu?
Mỏi mòn tóc điểm rêu dìu dấu sương
Thư sinh lót tuổi làm giường
Cõi thâm sâu lắng nửa hồn tiếc chi?
Sáng, thắp lên, sáng lối đi
Ngại ngùng … sao vội nửa thì … vội thôi?
Thì thôi, có mệnh có trời
Thâm sâu thắp sáng (2) “Không lời” thắm xanh.


Mượn vần và họa vận bài “Thắp sáng thâm sâu”.
Cảm tặng tác giả N.H.P
Tân Qui Đông, 1998.

(2) Thắp sáng thâm sâu (trong Thi phẩm DẶM VỀ – NXB.Trẻ, 1995)
Thơ Nguyễn Hải Phương




CỘI BÀNG
ĐÌNH LÀNG AN–GIA, 1987

(để tặng cháu HỒ- ĐẰNG)


Đình làng tôi,
Cội Bàng không chịu sửa làm kho
Chứng tích trăm năm, kẻ khéo trò.
Chạnh lòng, cơn Bão xua cây ngã
Nén tình, trơ gốc, chứng nhân xưa.


Châu hoàn Hợp phố cây mơ đứng
Động Đình Hồ xưa, ta với ta
Trả Đình trả Sắc, chưa đủ trả
Sắc phong Thần đổ đau nguồn cội
Trả lại hương xưa, tóc với tơ.


Khí hạo nhiên,
An-Gia xưa hãy còn đó
Cội nguồn gần,
Kiều Mộc đứng, vẫn trong mơ?




GHI DẤU MÀU THỜI GIAN

(Cảm tác ý thơ cháu HỒ- ĐẰNG)


“Bàng kia bão nọ xé tan thân
Cội đó còn ghi chứng tích làng”…
Ai kia “tựu mộc tắc tri bổn”
Chớ để trăm năm lệ thành hàng.


Nhớ xưa trăm Họ cội Hùng Vương
Lạc dấu ngàn năm vẫn giữ hồn
Tinh anh tiên Tổ, hồn tiên Tổ
Cổ Nguyệt An-Gia một nén hương.

Tâm tình đọng lại, tâm con cháu
Kẻ bạc, phôi pha, thạnh lẽ thường !



MÀU THỜI GIAN
DẶN CON NGÀY GIỖ TỔ



Cơ nhị ngũ làm nên 10 toàn vẹn
Tháng 3 Thìn đặt móng tiên thiên
Giỗ Cha Ông, nhớ cội nhớ nguồn
Thiên huyền sử
Chuyện Tiên Rồng làm nên dấu sử.

Nhà có Phả như Nước có Sử
“Sử gia chi tử tôn
Lâm lưu tắc quan kỳ nguyên
Tựu mộc tắc tri kỳ bổn”
Lỡ mai sau ngàn năm ly loạn
Giỗ nhớ ngày, dù phiêu tán muôn phương
Một lư trầm, một nén hương
Nhớ linh xưa hồn Tiên Tổ.

Đây con nhớ
Trăng mùng 10 là Trăng của Thiếu Dương
Mẹ Thiếu Âm ngời sáng chờ tròn,
Trăng vành vạnh.
Tiên thiên Cha thứ tự tháng Rồng
Cặp đôi lứa, sử huyền ghi gốc Tổ .
Dấu tích xưa chìm sâu ý nghĩa
Thiên Hà Lạc ai tranh
Hồn Hà Lạc nay ai còn giữ ?

Này,
Xương con máu thịt con
Con nề hà chi lý thuyết !
Con không tin hồn con trong da thịt ?
Con không tin
Hồn con
Hồn máu huyết Tổ Tiên con ?

Mỗi phút trôi qua nhịp gõ đầu cồn,
Nghe lời dặn, giờ ta truyền lời dặn
“Kiều Mộc Thìên Chi Do Nhất Bổn
Trường Giang Vạn Phát Thị Đồng Nguyên”
Nếu con quên, ta nhắc thêm
Thuở Tiên Thiên con
Thuở Động Đình Hồ
Có cả Thiên Hà ôm con lặng lẽ.


CON SÂU TRONG MẮT (*)
TRONG BIẾN TẤU THƠ THẤT NGÔN


Sâu mắt anh con sâu có thực
Ảo đời hư, ảo đáy mắt sâu
Nửa mắt nhìn Em nửa tình sầu
Mộng Em về, hiện tướng, mắt anh sâu.

Tặng Thân Trọng Minh,
Phòng Tranh Tự Do, 1999.

(*) Nhan đề một bức tranh sơn dầu trong tranh TTM.






VỊ NGHỆ THUẬT CHẤM PHÁ

Cảm tặng anh Trịnh Thanh Tùng – 1999

Người mua tranh, kẻ bán tranh
Tranh treo lúc khó
Khó cũng đành,
Tài treo đầu cọ, tâm treo lửng
Trí lững theo tranh dạ đinh ninh,

Khi trao khi đổi, người đổi chác
Vung tay, bút múa vị nhân sinh.

Nhìn lên, ngước mặt đau nỗi thiếu
Trông xuống, cúi đầu điếng chữ đành.
Thôi thì đành vậy vui với vẽ!
Con Tạo xoay vần vẫn đành hanh.



MÀU THỜI GIAN
TIẾNG HÉT CÂM

(Có Một Lần Khai Bút)
Tặng các bạn, một thời Ý THỨC

Có khi bất ngờ
Ngẩn ngơ ngàn kiếp trước
Có khi thoáng chốc
Bất chợt một lời câm.
Thoáng-có-không trôi nổi ngàn năm
Hoa vẫn nở đá mòn dòng nước chảy,
Cỏ nhú mầm rụng đỏ lá heo may.
Kia,
ngàn cây rùng mình cơn gió.
Này,
một loài hoa và đá.
Một thứ âm thanh
Ngôn ngữ xôn xao
Những tiếng gào xé đất,
Có một lời lặng ngắt
Thin thít im, màu tịch lặng

Có một cõi sâu lắng
In mãi những lời câm.


NHÂN VẬT SÁU MIÊN


Bàn tay em, chốn rừng sâu đất vỡ
Có con suối, đất của đất
Em du canh quên mình mồ hôi đổ.
Chen cuộc sống, đất khẩn mấy lần trưng
Bàn tay thô, mấy lần hoa nở
Khoai và sắn, rẫy mở mấy mùa ngô?
Có chút rượu
Khi trời cho mùa được vụ
Mắt em cười
Mình qua suối rượu đầy thêm.

Khi tôi về, mãi nhớ em
Rượu té suối.


Đồng Hòa -1987


THOÁNG TIN XA


1-
Đào Mộng Nam
Ngươi, một thời, tâm khơi Nguồn Sáng
Chàng trai Việt, chàng trai Lạc
Có khi mình lãng đãng.
Thời,
Có biết thời? Chẳng có thời gian.
Ngươi đọng lại
Nghe chừng thời gian đọng lại.

Tha phương, trời.
Góc Huế nhỏ, giờ này đây
Ngươi về, trái tim ta tràn đầy,
Việt Reservation
Hay Lacsian nhớ cội?

2-
Anh về ?
Có bao giờ nghe anh nói!
Chân phiêu lãng, dừng chân,
chim trời cánh mỏi?
Nến anh thắp, sáng soi lên khắp
Phải vuông biển anh mong tìm gặp?
Cali – Huế – Sài gòn
Có từng Nam – Bắc
Nửa khung trời với anh?
Biển, không hề ngăn cách.

Là phút này
Thoáng chốc này
Tim tôi đầy ắp.

Huế, An-Cựu - 03.03.1999
Tặng anh Đào Mộng Nam



“HỒN THU THẢO”



Vỏ ốc sò, thời gian len lớp vỏ
Biển cát mòn sóng vỗ, giấu ngàn thu?
Bãi Trần Gian cát sỏi thẩn thờ chờ
Rong rêu lạnh hồn thu phong cây cỏ

Sợi nắng vàng lịm tắt buổi ốc mơ.



VỌNG PHƯƠNG NAM



Trăng xưa soi hồ im in bóng
Cổ nguyệt nay về nguyệt cổ mông
Chiết giang đông, xưa trăng soi bóng
Việt bách còn, vọng, cổ nguyệt mông mông.



TÌNH ĐẤT


Một mùa nắng
Không phải tháng năm mà tháng sáu,
Không phải nắng huế mà nắng trong nam.
Không gay gắt mà mồ hôi tươm.

Nắng tháng tư,
chúm chím hườm
Rừng đứng gió
mưa rừng giữa nắng.
Lá cây nghiêng,
nghe nhỏ giọt mồ hôi tươm.

Cầu ba mươi, căn cứ, đất Kà-tum.
Không tiếng cười,
Chỉ nghe gió
phất phơ reo giọt nước.

Ôi tình đất,
Đất trái Đất, tình quê hương nghe ngợp
đất và nước, có bao giờ nghe đất hẹn ước
có bao giờ nghe nước thề non?

‘Thề Non Nước’, đã phôi pha chút tủi hờn,
Thôi thì Đất!
Để cho Đất thề non hẹn biển.
Để cho Đất Trời không hề bất biến
Để cho Tình Yêu Đất hiển hiện.

Để cho dù … tình Trời không che,
tình Đất vẫn chở.

Và để cho Tình,
Tình Yêu Đất hé nở.


Ký ức Kà-tum tháng Sáu - 75
Thân tặng các Bạn A3-B1-C1, Đoàn 875.



NƠM TRĂNG


Tay nơm nghe chừng không có cá
Bóng ngả về tây giỏ cá không
Thân cò lặn lội ai hay tá?
Nửa nước mênh mông nửa bóng trăng.

Nghìn trùng xa cách trăng nửa nước
Vời vợi thân cò một giỏ trăng.


“Biến tấu thơ thất ngôn”
Mừng vào tuổi lục tuần
Tân Tỵ – 2001.




BÓNG THỜI GIAN


Cây đa bến cũ người xưa đâu?
Đò đợi ngang sông bóng bạc màu
Chiều phai dòng nước phai nhân ảnh
Vuốt mái tóc mây điểm bạc đầu.




MÀU THỜI GIAN
MẢNH VỠ TRONG SUỐT



Giọt rượu tràn mảnh vỡ loang loang
Nụ cười buồn bốn mắt bờ hối
Khuyết trăng đêm nhờ nhờ nước nổi
Lạnh ngoài trời lạnh thấu tâm can,

Lung linh giọt rượu đổ ly tràn
Bụm tay hứng giọt tràn ly hối
Loang trăng rồi, đêm khuyết tan hoang.

Nhớ xưa
“liễu rũ, lệ ngàn hàng”
Pha lê dán lại bình tan vỡ
Mỗi vệt trăng tan nỗi bàng hoàng.


(PHỤ BẢN LÊ KÝ THƯƠNG)


MÀU THỜI GIAN
SINH NHẬT EM 55


Có những mùa nắng
Tháng 5
Bầu trời vắng lặng.
Mây ở xa
Đêm trong vắt mỗi đêm về.
Nhớ Huế xưa
Khung trời em, rộn rã tiếng ve
Tóc lơi lả ngang vai thề, ngàn sao chớp mắt.

Đã mấy tháng 5
Nắng bao lần hiu hắt ?
Đêm đợi đêm em vẫn đợi anh về.
Trời Sài-gòn nghe vắng tiếng ve
Khung trời Huế, tóc em
Còn đâu vai vàng lá đổ.
Nhớ mùa hè
Là nhớ mùa hoa phượng đỏ
Nhớ đến anh
nhớ hoa biển trắng lung linh
Mỗi lần ra khơi, anh hải trình
Ánh trăng mang màu nước mặn
Bầu trời sao chớp mắt cười người thủy thủ.


Tết riêng Em, lần này anh mắc nợ.
Thanh bình quê hương, mùa hoa nào nở
Thiếu màu đỏ tim anh
Thiếu hoa phượng năm xưa.
Tết 55 Em, anh tặng mấy vần thơ
Màu nắng úa dặm nền màu tim Em bừng nở.


Tặng Ana, người bạn đời.
14.5.1999


TRINH NỮ.
Nhớ về hai người nữ là Em, là Bạn.


Tôi có người em gái mất năm mười bốn tuổi.
Bạn tôi, trinh nữ sáu mươi,
mắt giấu nụ cười
khuôn mặt chưa một lần rạng rỡ.

Em gái tôi ngây thơ
má lúm đồng tiền tươi hớn hỡ
Giấu trong lòng giấc mơ làm cô giáo.

Tuổi mười ba em ngời sáng ánh sao
trắng áo học trò mây trắng nụỉ thanh xuân
Tiếng gọi xa,
thiên thần em chìm giữa dòng nước lũ.

Ba mươi tám mùa thu,
nẩy mầm lời thơ tôi, trinh nữ.
khi bạn tôi về, nơi yên nghỉ
miên viễn tròn người trinh nữ sáu mươi.

Có lẽ,
Bạn, và em tôi
Đều đã giấu nụ cười
Ngày thơ ấy.



GIẤC MƠ BÉ !

Bé mơ nho nhỏ tuổi mới mười ba
Mắt tròn thơ mộng thuở bé mơ hoa
Chuỗi hạt cườm mơ, ôi chuỗi ngũ sắc
Cườm tay bé, ôi xinh! Chuỗi nõn nà.

“Có một nơi kia cườm rắc thảm hoa
Chỉ dành làm sân... ôi máy bay đậu!”

Hoà bình mới ba năm
Chiếc xe kéo còn kia
Cha vẫn thường cho
người đón đưa, bé đi học.

Triều đình không còn
Quan lại không còn
Xe song mã không còn, mà xích-lô chưa có.
Bé không biết phi trường...
Ôi máy bay! giấc mơ chưa nở.

Làm sao?
Ôi làm sao mơ tưởng
Hạt cườm... nơi sân máy bay đậu!

Ôi giấc mơ... Thôi đành
bé xâu giấc mơ làm chuỗi...
“Long lanh hạt lệ hạt cườm
Về ươm hạt phượng sân trường mộng xưa.”


Cảm tác “Huế vẫn còn đây”
Trong dòng tâm tưởng cĩ một thời như thế.


GIỌNG MƯA

1.
Mưa mưa trên mái
giọt ngắn giọt dài
đếm từng giọt nhỏ
nghe từng tiếng rơi

Mưa khơi trên chái
bâng quơ giọng buồn
xua nhẹ hẻm thuôn
âm ngừng tiếng nấc

Mưa từng tiếng khóc
rơi từng giọt nhớ
rót từng giọng ru
mưa buồn muốn khóc.

2.
Mưa rơi trên mái
giọt ngắn giọt dài
giọng mưa rơi nhẹ
mưa buồn ru ai

Hạt mưa trên mái
buông hơi thở dài
mưa rơi rơi mãi
mưa buồn nhớ ai.

Thu 1966


GIỌNG U

1. lời quen
ru con con ngủ giấc ngoan
giọng mòn tuổi mẹ đọng buồn lời ru
áo sô nâu nhuộm nhiều thu
chợt vàng vá víu tuổi thơ con hiền.

2. đất tưởng
đong đưa võng mẹ ru con
rừng xanh cỏ ma ỉúa vàng giọng bom
ru con giấc ngủ thật ngon
tháp cao lời mẹ mỏi mòn khói hương

Thu 1967


HOA NHÂN SINH


Giao, Quỳnh cùng họ mình chung chậu
Trơ trọi thân cành đứng với nhau
Giao, hoa ai biết, nào ai thấy
Quỳnh, hương giấu mặt ngát đêm thâu
Cõi tình một nửa hồn khuất ẩn
Đời hoa trọn kiếp phũ phàng đau
Sinh sinh mấy thuở tình muôn thuở
Nghiệp nghiệp còn đau mãi nỗi đau.


Tức cảnh chậu Giao Quỳnh
Mồng 7 tháng 7, Mậu Dần
Tặng NĐV. (Lấp Vò, Đồng Tháp)



BIẾN TẤU THƠ THẤT NGÔN

Tặng TTM và LKT.
Phòng tranh Tự-Do – SGN 1998.


Tranh bày màu sắc có kẻ xem
Lụa giấu nét bay không ai hẹn
“Tượng, Hình” ý chở lắm người thèm
Rong chơi thỏa cuộc, chẳng kiêng khem.

Đồng Hòa tôi, hòa bất nhi đồng
Sắc, Màu, Người – đẹp. Thỏa lòng mong
Tranh là họa, họa mà không họa
Một tĩnh vật hoa một chữ đồng,

Khen tài hoa ấy kẻ khá đông.


LUẬT THỨ BA
“Tổn hữu dư, bổ bất túc” – Lão Tử.

Bạn tôi,
Ngy-Hữu (2) mất, tôi thương mà không tiếc
Tin Sơn mất, tôi tiếc mà không thương.

Bạn tôi,
Nguyên-Minh (3), nuôi khúc đoạn trường
“Nữ quái Qui Nhơn”, thời giáo sinh
Những đêm vui ca hát.
Khúc đoạn trường,
thời sinh viên át dấu vàng son.

Đất vẫn mở
Trời vẫn mở
Chỉ người không mở,
Lấy đâu xưa “Sơn Khúc Da Vàng”?

Trịnh,
ôi một thời sử dậy đất Tây Sơn.
Bạn, ôi đất khách,
một thời, Người hay Đất linh khí?
Xưa, sinh vẫn ký tử vẫn quy
Hàng không đồng, mà Thời cũng không đồng
Nên kẻ đồng thời đồng hàng này không thương mà tiếc.

Tiếc là tiếc dấu xưa mực mài tranh mới vẽ,
Tiếc là tiếc tấc lòng
Có khúc trẻ khúc già
Tiếc khúc Văn khoa những đêm ca không ngủ
Tiếc Huế buồn Tháp cổ mưa bay
Tiếc trăm năm hương nhuốm lỡ phai,

Tình quê hương
Ôi, cũng tình người ở đậu.

04.4.2001
Tháng Tư không có cá.
Tặng các bạn “một thời giáo sinh Sư phạm Quy Nhơn”

(2) (3) Bạn văn trong nhóm chủ trương Tạp chí Ý THƯC (1970)



ĐUỐC BIỂN

Đêm, một mắt
Soi đường biển cả
Kể chi
Người quen kẻ lạ.
Dẫn đường vào ngõ biển bao la
Thân bờ bến đợi chờ khách dù lạ
Biển động rồi
Vào đây say chút đất, bờ.
Say say đất, chập chờn
Đất liền lay sóng
Thời trẻ trai một thời sóng động
Biển bạc đầu lấp bạc đầu xanh
Thân đuốc biển, một mắt
Trơ đứng một mình
Trơ bão táp trơ lạnh lùng
Mưa vẫn sa mắt vẫn mở

Soi đường, người đi biển.



BIỂN LÁ VÀNG


Ôi khuôn biển, vàng tay xa bỡ ngỡ
Vết trăng tròn vuốt thẳng mây cao
Em cúi xuống xa tiếng gào sóng vỗ.
Ôi khuôn biển, Anh vung vòng tay vẽ
Hình hài em, đêm dỗ nhẹ lời ru
Bọt sóng xao lấp lánh lá thu
Vàng trải thảm lung linh, màu áo lụa.

Em,
Trí nhớ làm mùa thu
Lồng lộng biển trời chung hơi thở.
Anh,
Trí nhớ làm trời cao
Đêm hải hành tàu theo sóng vỗ.

Còn khăn áo em đan
Còn đường trời đêm sao anh vói.


Cap Mia, Quãng Ngãi -1974.



NGƯỜI EM BÊN BỜ THỦY LỢI
Chuyện kể – Phan Đăng Lưu, 1981.
Kính tặng anh Châu Kỳ.

Có khi nắng cháy
Có khi mưa dầm
Một thời, mắt nhìn mắt lặng câm.

Áo em vén lên, quần xắn ống
Góp xác thân mình, thôi thúc em,
Xác thân tròn lao động.

Em sinh viên, mắt mòn thơ mộng
Mộng mơ em mây trắng vỗ về bay
Học lịch sử,
Mấy khi em tưởng tới ngày này
Bờ thủy lợi xót xa, cỏ mỹ lút cao
Gai mắc cỡ bàn tay em xa lạ.

Đã mấy mùa hạ?
Em vẫn mơ .
Ngày hè thơ khuất tối mù tăm
Tay áo em xăn, quần ven quá gối
Bờ nước vàng xanh
Cây len nhẹ tơn thấm lờn mệt mỏi
Em ráng sức, mắt em hoa
Cô sinh viên y khoa gục xuống.

Sình lên tóc em
Tóc sinh viên bạc mùi sình sợ hãi
Chỗ em nằm gió run quanh bờ cỏ dại
Em thiếp đi
Lặng lẽ chia ly
Chẳng lời ly biệt.

Cỏ vẫn xanh biếc,
Thanh bình em, bao giờ trở lại?




MẤY THƯƠNG?

Cảm tặng Lữ Quỳnh
(30 năm kỷ niệm ngày thành hôn)


Một thương, nước chảy đá mòn
Anh mãi yêu em
Tổ Uyên Ương ta xây, anh che em chở.
Một ngày không ngờ anh thành người nặng nợ,
Không che chắn được đời con,
Thương tiếng hát ví von
Chim trời, con tự mình chắp cánh.

Hai thương,
Một lần lời thơ trong giai phẩm
Thơ thật thà chảy máu tim gan.
Thấm thương ai thiêu đốt tâm can
“ … những phút ngã lòng”
Người “…vịn câu thơ mà dứng dậy”.


Thương,
trái tim ai máu không còn chảy
Thương hận thù thôi lửa hờn căm
Vẫn thương ai nét mắt đăm đăm
Biển khổ đòi, biển thương
Nơi nơi máu còn chảy.

Ba thương, một thời thay đổi,
Tôi thương tôi
Cùng đàn bò những lần qua suối
Giữa đất trời cây cỏ cùng thương,

Thương tiếng hát nay
Thương câu thơ cũ
Thương nước chảy, đá mòn thêm thương.

1998


TÂM PHÀM TÌNH

Tri âm nỡ bỏ tri âm?
Từ ly dạo ấy tâm, tâm nổi chìm
Hồn ai có bóng đáy tim
Nửa in lên bóng, nửa hồn “trăng cao”
Dấu thời gian “đêm chầy” trao (*)
Nói chi mua bán mời chào tự do
Tâm chi cái nhỏ cái to
Cảm ơn chi cái khuyết khờ dại khôn?
Rồi mai người sẽ giăng buồm
Cõi đi, cõi ở chiều hôm đạo, đời
Tâm ai giữ mãi cõi người
Thời gian vô thủy, có trời có cha.


Tiếp vần và họa vận bài thơ “Ngẫu Hứng”
(Thi phẩm Dặm Về – Thơ Nguyễn Hải Phương, NXB Trẻ, 1995)
Tặng tác giả N.H.P.

(*) “Đêm chầy trăng cao” thơ Nguyễn Hải Phương.
NXB.Lao Động, Hà Nội – 1992.



Nơỳ nghiệp


Chi còn? Chi nợ ?
Nợ còn.
Thiên-la, nghiệp cộng
Tuần hoàn. Võng, đan.
Nắng vàng xế bóng, vết loang
Bàn tay nửa nắm hoàng hôn chạnh lòng.
Hương trời
Sắc nước
Đa mang !

Suối vàng, tiếc đóa vô thường quỳnh hương.




Dư hương Thời Gian
Hương Hoa TINH trong Nhị Thập Bát Tú

Chu tước phương nam rừng Ly làm tổ
Tượng, phục sinh về, đốm lửa ngủ
… Cõi mù sương.
Cảm tặng Lữ Kiều.

Sắc đỏ phương Nam
Chu tước về Tây
Tượng Trời hiu hắt, lá bay bay
Nhân ảnh giao thời mờ in bóng
Hãn lệ hoen rồi mắt cay cay.

Buổi trọng Đông tiết khí âm thiếu nắng
Chút vàng hanh mớn tuyết đợi đông tan.
Lành lạnh tâm thu, tiếng nhịp đập
Mong chi sưởi đốm lửa mong manh.
Lá trở mùa xám khô, cành trơ trụi
Đông chí nép lòng giấu kỹ tháng mầm sinh.

Giọt sương trăng hay giọt lệ giấu mình
Tim nóng hổi tình sầu, hào dương khí
Giấc miên đông, đốm lửa ngủ
tượng sao Tinh.

Bạn tôi, thiên tượng loài chim
Treo vàng âm vực nhịp tim dọn mình
Một mai ‘trăng nổi hay chìm’
Rừng Ly cây đứng
Trăng tìm giọt sương.
Thâm trầm mấy chữ dư hương
Hình trong sắc sắc
Vô thường
‘Chữ không’.


Men chiều tím

Là chiều tím
Những ngày xa xanh ngắt
Nhớ nhung đầy
Nhớ chất ngất mây bay
Em, nỗi nhớ
Vai gầy, vời mắt đợi.

Chìm chân trời
Bờ xanh xa vời vợi
Đây nhịp cầu
Thơ thẩn tím chiều rơi
Biển chênh vênh
Sóng vỗ, nghe ngày rời

Men hồn tím
Nghiêng nghiêng ngày,
Chợt gió bay.

tháng 4. 1970.
Tặng Ana 26 tuổi.


(PHỤ BẢN LÊ KÝ THƯƠNG – THỜI THƠ DẠI)

Ngôi sao của tôi.
Trong Nhị Thập Bát Tú.
Cảm tặng Lê Ký Thương.

1.
Sao tôi Cơ mà bảo sao Hư
Chòm Thanh Long đâu lìa Hoàng Đạo
Sương Giáng hắt mờ xao Huyền Vũ
Buổi Đông về, tôi cởi áo Thu.

Đời tôi – sao Hư, tôi vẫn mơ
Uyên nguyên Huyền Vũ, Đạo mịt mờ
Dù chỉ Nam vẫn tìm phương Bắc
Tình tôi muôn thuở vẫn tình thơ.

Buổi sáng tiên thiên ai có thể ngờ
Giờ định mệnh sao Cơ tôi len lén
Cõi trời Đông mở cuộc hẹn tôi về
Nắng nghiêng rồi, in bóng giấc tôi mơ.


2-
Áo giá Lập Đông, lập-đông-trung
Nhớ xưa “Công Chúa Ngủ Trong Rừng”
Tim chàng sưởi ấm rừng trăng lạnh
Níu bớt Đông về chút nắng hanh.

Trăng-Hàn-Lộ vẫn giấc mơ anh
Áo vẫn vàng heo may mùa lá
Vẫn tình anh, sương mờ hơi thở
Màu cỏ úa anh mơ vẽ nên xanh.

Nửa đời anh, ai giữ nửa khung tranh?
Nửa đời tôi, ai giữ cả cuộc tình?
Thanh Long hẹn, phương Đông ngày hội ngộ
Sợi chỉ đđỏ bầu trời Cơ lấp lánh.


3-
Tôi tin tôi,
Tôi tin dòng sinh mệnh.
Chút hình hài thỏa cuộc keo sơn
Chút trăm năm, chút bóng càn khôn
Khi rồi cuộc cõi về tôi trở lại.

Dù Bắc phương,
Dù Đông phương tôi vẫn trải
Nhịp xoay vần tôi vẫn mãi lung linh
Tôi biết rồi tôi sẽ một mình
Sao Cơ tôi – mệnh tôi
Giữa muôn vàn tinh tượng.

Cõi người,
Vũ trụ chủ quan, nơi hiện tướng
Ai dè khi tri khi kiến
Khi vô thường, nửa núi tuệ vỡ toang
Bên bờ giác, lẽ Huyền ra vào Tham Lưỡng
Tôi-Năm-Ba,
một lần nhân nhượng.

Sao Cơ tôi, lẽ vô thường.
Tôi có thật,
Giấc mơ tôi có thật.

Tháng 6.1998



Hương hoa HƯ
Đề tặng Lữ Quỳnh,
Ngôi sao Hư, 58 tuổi (1998).

Một thuở lạnh
Anh chìm sâu
Em đáy mắt.
Thân mệnh anh, ngôi sao Hư
Hương ngây ngất,

Đời anh, tưởng Em sắp đặt!

Hương bất nhiên, hồn hoa bất đắc
Cõi huyền phương Bắc,
Huyền vũ ôm anh, mịt mờ huyền cõi lạnh
Và tình yêu bay bổng,
Hốt nhiên xanh.

Dấu ấn, uyên nguyên Em
Đáy mắt trong lành.
Hư, vô hương,
Môi hoa mềm in lỡ dấu.

Loang ánh sáng,
mờ vai Em
nửa vai, anh đậu.

Mơ cúi xuống, Hương Em hòa
Sao Hư anh
hòa ánh sáng.



HỒN TIẾNG QUỐC
(Cảm tặng Cao Quảng Văn)

Mây trắng đồi cao
Mây non cao
Về dâu mây trắng?
Mây đầu núi,

vọng hồn tiếng quốc
… tợ thuở nào !



Bất đắc bất nhiên
Tinh Tượng HƯ Trong Nhị Thập Bát Tú.

Cai quản Bắc phương
Anh mơ hồ phương Bắc
Buổi Hàn Lộ chưa nguôi
Đêm Sương Giáng hiu hắt
Ngôi sao anh. Đời anh, ai sắp đặt?

Cõi Huyền phương Bắc
Huyèn Vũ ôm anh, trong Không mà Có.
Thu chuyển mùa lá thu reo gió
Tinh tượng anh già nửa trời thu.

Lỡ tên gọi sao Hư
Giữa cõi người, đời anh có thật
Lỡ mùa Thu,
Anh đâu chọn lúc giao mùa
Buổi Sương Giáng bầu trời lem màu lụa.

Em mùa Thu, anh yêu màu cỏ úa
Áo ai vàng, anh tô vẽ ánh trăng
Trải trăm năm anh ngước mắt mấy lần?
Tim lành lạnh
Giấc mơ anh trăng-hàn-lộ

Một nửa cuộc tình, vẫn là tình muôn thuở
Nửa đời anh, phần tư thế kỷ tan hoang
Sao Hư anh, cai quản phương Huyền
Nghe sót lại nửa nghi nửa tín

“Bất Đắc Bất Nhiên”.
Có lẽ, anh tin.
Anh có thật.

Bàng hoàng, Hư có thật.




Sắc màu Thời Gian


Ánh sáng và màu đêm, nhòa nhòa lẫn
Bé ngo ngoe tiếp nhận ngọt bảy màu
Sắc cầu vồng, nhè nhẹ nhịp tim mau
Ngo ngoe bé khóc cười ôm nhau mẹ.

Ngày chào đời bé oe oe bập bẹ
Tiếng đầu đời chào ánh sáng oe oe.
Có khi ngày, có khi đêm trong nắng
Bé nhíu mày, nhắm mắt nỗi băn khoăn.

Kìa đêm tối – màu trăng hòa màu nắng
Cõi bảy màu mơ trắng màu Em
Tắt mặt trời, sáng thực, sáng màu đêm
Mặt trời dậy, màu Em đen hay trắng?

Kìa sắc màu, chìm sâu cõi tượng
Chìm đêm đen, thoang thoáng tinh quang
Hồụn men cõi sáng muộn màng
Giao hương thơ dại thênh thang huệ Trời.

Tháng 3.2002.

Cảm Giai Điệu Bí Aăn - TRINH XUÂN THUẬN.
NXB. Khoa học và Kỹ thuật - Hà Nội, 2000.



Hương Thời Gian

Có một mùi hương không lan tỏa
Có một ánh sáng không nhả hào quang
Có một nhịp rung không nghe gõ
Có một lặng im động cả thiên đàng.

Không có thời gian sắc khởi thủy
Không chung cuộc, nghiệp nghiệp nối nhau
Không có kiến tri, tuệ tầng sâu
Không không bén huệ nhiệm mầu.

Hoa thời gian thắm nửa màu trần gian.



Hương Tình Yêu

Tình, viết hoa, hòa Tình Cao Thượng
Quả tim người thanh thản nhịp đôi
Mượn hình giả tạm bên Trời
Mượn sắc giả tướng, mượn đời giả nhân
Giả nhân nghĩa, giả hình mấy bận
Tình thật thà lận đận người thôi
Hoa Sen chẳng mở nửa lời
Người chìm trong nghiệp Hoa Trời vẫn đây.

Hương hoa yêu, người cười giả lả
Tình khiết trong kẻ nỡ lưng, đầy
Hương Tình dợm viết lên mây
Lặng yên lá rụng ngàn cây lạnh mình
Hương Yêu Lớn, rừng sao lấp lánh
Ngước mắt trông thấy mảnh sao rơi
Tim ngưng, nhịp thở bồi hồi
Hoa Tình Yêu mớm mở lời lặng thinh.

Cơn gió thoảng hương tình chẳng tỏa
Sáng lung linh mấy ngả chẳng chìm
Lặng im động cả thiên đàng
Chợt rùng mình, lặng, tinh quang giao hòa

Thân rung, chuyển nhịp, tâm nghe gõ
Hốt hài hòa nở chớm mùi hương
Trần gian hạt bụi vô thường
Thăng hoa vượt tới miên trường vô biên.

Ngàn sao ươm mật thiêng liêng
Hư vô hòa cõi như nhiên Hương Trời.



Nụ Thời Gian,
Sinh nhật Em là bà nội

Hoa Thời Gian, thầm in trí tưởng
Nụ, nở thầm, một cõi mênh mang
Bên Trời ta hẹn bước Vàng
Thênh thang một dặm thời gian Hoa Trời.

Năm sau, mình tuổi sáu mươi
Ngẫm nhìn, nụ nở, Hoa Thời Gian in.


Tặng Ana, người bạn đời
Nhâm Ngọ,
14-5-2002.


Hoa hồng trắng
Mùa Vu Lan PL.2547


Rồi một ngày con sẽ …
Lạnh lùng con, đất khẽ ôm con
Từ qua phân sông núi tủi hờn
Nơi yên nghỉ, hồn con đất mẹ.

Mẹ dang tay, sao nỡ chẳng ôm con?

Mây trắng trên non …
Vương trắng cành hồng,
“Bên ướt mẹ nằm ...
Nửa bên ướt con lăn? ”


Sương nguồn giọt đọng ngàn trăng
Mẹ ơi sen trắng sen hồng từ đây
Mủi lòng cài áo hoa mây
Bardo hồng trắng hoa đầy hồn con

Ngoại tầng mây trắng đầu non.
Trắng hoa hồng trắng lòng con tang lòng!


Rằm,
Trăng A-lại-ya

Chìm đáy nước sắt son nước chảy
Nổi tầng mây mây nước hóa hồn
Trăng in nửa bóng nước non
Trăng ngàn ngược sóng lá vờn, nghìn xưa
Tròn trăng mấy độ trăng mơ
Trăng thơ giấu nhẹm tơ thơ, thuở nào?
Tàng thức chuyển giữa ngàn sao
Mở tầng tuệ mở, trăng cao lại tròn.


Tháng Tư, Nhâm Ngọ
PL.2546 - 2002



(PHỤ BẢN MĂC TRÍ- TẦNG TRĂNG Ý THỨC)

NGUYỄN và HỒ
Gia Phả Để Lại Đời Sau.


CỔ NGUYỆT HỒ HỒ CỔ NGUYỆT, VÔ
PHỤ NGUYÊN NGUYỄN, NGUYỄN PHỤ NGUYÊN, HỒ
BÁCH NIÊN LƯU TÍCH TRI KỲ BỔN
VÔ NGUYỄN VÔ HỒ, KHỞI TỰ VÔ.



HỒ LÊ NHƯ NHIÊN
Để tặng hai con và cháu nội gái.


NHÃ NHƯ LỘC UYỂN TỊNH TÂM THANH
THỜI TRUNG KINH TRẬP KHỞI THỦY HÀNH
CƠ KIẾN TINH CHẤP NGUYÊN HANH LỢI
GIANG HẢI NHƯ NHIÊN CỔ NGUYỆT ANH.

12.3.2003



Tấm bia không
ở Văn Miếu


Cảm tặng anh Nguyễn Nhàn, Hà Nội.


Mở :
Thân đá, cổ thành xưa, xếp xó
Rùa thiêng, văn miếu, mở lưng không
Ngàn năm đội mãi trời xanh cũ
Ta, vuốt ve đây đoạn nỗi lòng.


Điệp:
Ta đá, rùa thiêng. Ngươi vuốt ve
Cổ thành văn miếu trời xanh cũ
Đội mãi ngàn năm chẳng mái che
Tiến sỹ, bia xưa nay đâu tá?
Đành đoạn, Ta đây nỗi lòng se.


Kết :
Đất chở Trời che nào đâu mái
Ngàn xưa chẳng đợi giờ tang hải
Biến dịch Thời-Không lạnh bóng hài.

Hà-Nội, Trọng Xuân Quý Mùi - 2003




HOA THỜI GIAN
Quý Mùi - 2003

Mai trong rừng.

Long lanh chân trời màu nắng mai
Lan rừng còn ngủ sương mai ngậm
Gió chạm hoa vàng cánh mai phai.

Bừng nhiên chợt nở nụ hình hài.

Mai giữa chợ.

Hồn hoa nở mộng nhân sinh
Cánh vàng cánh trắng là mình là ta
Giữa sân khuya điểm nở hoa

Như nhiên chợt mở, huệ xa mà gần.

Hoa Đào, cảm Thôi Hộ.

Năm ngoái hoa đào nở
Năm nay, nhớ người xưa
Hoa đào như như cũ

Gió đông động vần thơ.



Khóc Trần Thương Bá


Giữa tháng 5, lửa mạnh hạ, trăng vẫn chờ rằm
Mong cho tròn một ngày, ngày chưa tới.

Suốt một đời, lay anh nỗi xa vời vợi
'Sầu không vơi, rượu không vơi
Năm mươi năm lẻ thoắt vơi trước sầu '(4)

“Thơ Ngô Nghê” lỡ khúc kinh cầu
“Tình Huế” muộn lỡ mối tình sâu
Ngày chưa tới, vạn nỗi sầu
Trăng non chờ đợi rằm sau xa vời.

&

Dù khóc, anh, nước mắt chẳng chảy
Lệ lưng tròng nuốt hết lệ cay
“Vô Ngôn, Kinh” một lời say
Lặng im canh cánh lời này nghìn sau.

Thôi anh, đành cắn nỗi đau
Nửa non xanh ngắt nửa màu nước trong
Nửa tim chia xẻ nửa lòng
Trăm xưa Huế tím ngát dòng Hương xưa.

Thương anh, bất chợt bài thơ
Nạc xương nhuộm chút tóc tơ anh về.

Đừng quên,
'hãy ngủ bên lề bể dâu ' (5).

15.5.2002.

(4) (5) Thơ Trần Thương Bá,
Thi phẩm TÌNH HUẾ, NXB Trẻ 1995
THƠ NGÔ NGHÊ (Poésie candide)
VÔ NGÔN KINH (Thi phẩm chưa xuất bản)


Bóng Hài

Đất Thăng Long xưa hồ Gươm in bóng
Động Đình Hồ buồn Âu Lạc soi trăng
Ngàn năm hương lửa còn hằn
Trăm sau lắng mãi tiếng ngân sử hồn.

Hà-Nội, Trọng Xuân Quý Mùi (2003)



Bóng Hài Tục Biên

Nghe Tà-In ngỡ Tà-Inh?
Cầm chừng thời gian âm thổ,
Đất Lâm-Đồng mở, Đồng-Nai Thượng mới đây.
Chìm sâu lớp lớp bóng hài
Nghe thăm thẳm lạnh đất nài vỡ hoang.

Kia Kontum, Pleiku, Daklak
Nghe đâu chừng thời gian xa lắc
Nơi Krông-năng bắt nhịp Tam-Giang
Đâu đây là xóm là làng
Chìm sâu lớp lớp rừng hoang cội nguồn.

Nghe Buôn-Hô, Buôn-Hồ ngờ ngợ
Mấy tộc người? bách tánh lập thôn
Thấm dòng thác đổ suối tuôn
Nửa non nửa nước nước buồn chi sông.

Hồn sông núi lặng yên gió thoảng
Đỏ phù sa hoa giữa bụi hồng
Vùi sâu rìu đá tên đồng
Lung linh chỗ dựa bóng lồng dấu xưa.

Dấu xưa mai nở giữa sân
Hai bàn tay ngửa, lạnh chân bóng hài.


Krông-năng, DAKLAK.
Quý Hạ, Quý Mùi - 2003.



Tuổi Thơ Hoa Giáp
Để tặng anh Lê Xuân Vinh.


Lê, Hồ, có khác mà không khác
Thanh Hóa quê ông cũng quê tôi
Lận đận đòi phen thấm một đời
Nghìn xưa giấu nhẹm nôi gốc gác
Hồ, Nguyễn mai về, quê lại vui.

Người xưa, tròn tuổi khi trăm tuổi
Sông, sông, vạch đất vẫn ngậm ngùi
Ta nay hoa giáp, thêm chữ thọ
Phiên phiến gánh đời chắc cũng xuôi
Đành, không Bến Nghé cũng Đồng Nai.

Thương anh mấy, nửa thương tôi
Tha hương, Thanh Hóa, ngọt bùi đắng cay
Mình vui, vui đã bấy rày
Mình buồn, buồn đã lâu nay tuổi đời
Một mai, mai một một thời
Tuổi Thơ dù nửa tuổi trời vẫn thơ
Sáu mươi, sinh nghiệp chưa mờ
Chung vui hoa giáp, thẫn thờ thời gian
Người xưa mơ dặm quan san
Ta nay mơ dặm thời gian tuổi trời.

Dặm dài Nhâm Ngọ …
Sao chỉ mình tôi (!)


BIÊN HÒA & SÀIGÒN,
trọng Xuân Nhâm Ngọ - 2002.
Mạnh Thu Giáp Thân - 2004

(!) Nguyên bản thảo “Dặm dài Nhâm Ngọ... Anh, Tôi.” (2002)
Anh Nguyễn... mất do “đột quỵ”... (2004).


Di chỉ rìu đá ở Tà-In
Để tặng cháu Hồ-Cường.

Tinh linh giữa cõi ta bà
Thể phách xưa mượn tan hòa từ đây.
Rượu té suối say linh này
Sát na là niệm,
Ô hay!
Chữ Thời.

Nền viễn xứ rừng rừng cây cả
Đất chở đất mấy thuở trăng treo
Trăm xưa lội suối băng đèo
Lá ngàn che dấu, giấu theo thời thời

Moi cổ tích bóng đời để lại
Sử thi phong kín nẻo tử quy
Đương thời lớp lớp xuân thì
Cội nguồn sinh ký, loạn ly sử đời

Nền viễn xứ bóng vời viễn xứ
Dấu chân xưa đất giấu đâu đây
Linh này té suối rượu say
Dưới chân lớp lớp bóng hài cổ nhân.

A-lại-ya giấu ánh trăng rằm
Lưỡi rìu di chỉ, tay cầm ngàn năm.

Tà-In, Quý Hạ Quý Mùi (2003).



Hồn cổ tích


Ngàn năm chỉ một dấu xưa
Dấu in lên dấu tóc tơ cội nguồn
Bốn ngàn năm thoáng hoàng hôn
Dấu xưa in dấu lạc hồn, hỏi ai?



Huyết Hoa
Tưởng niệm hương linh anh Nguyễn Hải Phương.


Nhớ anh là nhớ hồn sen
Hồn bùn dù bẩn bon chen với thời
Lắng trong khơi đục chi đời
Tri tri kiến kiến nửa lời lặng im.

Nhớ anh từ thuở chữ chiêm
Hồn thiêng trải nghiệm bên thềm sinh sinh
Gọi anh vuông biển là hình
Đất vuông là tượng, chỉ mình với ta.

Đất xưa dấu kiếm Thái-A
Vạch ngang kinh sách huyết hoa gọi hồn
Bao giờ sen chẳng trong bùn
Đường gươm chựng lại giấu hồn huyết hoa.



Hành Tinh Nhân Loại


Hành tinh hiện bốn màu da
Đen nâu vàng trắng cùng pha huyết hồng
Em đen mặn, em nâu nồng
Hồng lên đôi má cầm chừụng em đen.

Hỏi chi tối lửa tắt đèn
Lặng im giọt nước lá sen giữa hồ
Sinh loài lắm họ sở ngô
Lắm vòng đại hóa ươm tơ, ngọc ngà

Hành tinh hỏi, mấy màu da?
Vành trăng tròn khuyết sao sa giữa trời
Đầu non đợi hạt sương rơi
Trăng tràn lên má lả lơi bóng lồng.


Hồng hoang em đợi sang sông
Theo mây làm tóc lòng hong hẹn hò
Đá xanh huyền vũ xa mờ
Lá quay nửa nhịp hoa chờ cuồng đông
Tơ ngọc ngà vội, chưa xong
Sông Ngân ngăn cách mênh mông cách lòng
Với tay tay rối bóng lồng
Hành tinh chia bốn huyết hồng tìm đâu?


Cảm Giai Điệu Bí Aăn - Trịnh Xuân Thuận.


Hoa sinh nhật

Giữa tháng nắng
Trăng theo rằm trọng hạ
Sáu mươi năm tròn,
Em tưởng thoáng một ngày qua.

Tuổi thanh xuân vẫy gọi giấc mơ hoa
Mây theo nắng
Xanh xanh lên trời xanh áo trắng
Hồn học trò thêu mộng bến sông xa,

Thẩn thơ em
Kim ngưu lạc giữa ngân hà.


Ngót mấy mùa nắng lạ,
anh không có hoa
long lanh còn giọt nắng.
Tặng em, anh hái hoa biển trắng lung linh.
Sinh nhật hoa, mình ngỡ thời gian xanh
Sáu mươi năm,
sương trên tóc mong manh,
Mừng em,
hoa vô ưu tròn một đóa,

Thời gian,
chừng mầm phép lạ!

Ta không lạ
Mà Trời càng không lạ
Ngẫm tháng ngày qua,
Tóc sương trắng giải ngân hà
Gừng cay thấm mặn hương xưa đá vàng

Có hơi thở, nhịp tuần hoàn
Kim ngưu, Thiên xứng quần quang Thiên Hà.


Tặng Ana, sinh nhật Hoa.
Giáp Thân, 1944 - .2004


Hoa Đương Thời


Tre tàn măng mọc
Tre chưa tàn măng mọc
Ai ngờ măng mọc tiếng khóc.

Con lánh khóc cha
Lệ Trẻ chan lệ Già
Điỉa võng lồng hoa thiên la.

Tre chưa tàn
Măng vội tan
Hai hàng lệ đọng võng tang đương thời

Vội chi măng vội nửa đời
Đành tre một kiếp nghiệp người tâm tang.


Nguyện an lạc hương linh cháu Bo (2005) và cháu Tô(2006) nơi cõi Tịnh.
Để tặng anh chị ĐVK. và anh chị TTM.


ĐỒI Y HƯƠNG HỒ
Để tặng anh chị B.Đ.Đ.(Huế)

Ký một nẻo quy một đàng
Ký quy là cõi thênh thang làm người
Xanh xanh núi, bạt mây trời
Đồi cao ước hẹn một thời có nhau.

Mai này xanh thẫm ngàn dâu
Đồi Y hoa trắng một màu hồ Hương
Hương Hồ hai nẻo Sâm Thương
Cõi huyền viễn xứ giấu phương người về.

@

Thiên hà chọn giải Sông Mê
Ngân hà chẳng chọn quê nhà Thái dương
Tinh cầu lạc, quạnh hà phương
Hành tinh xanh ngọc, dòng Hương Hương Hồ.

Khởi tâm, tâm tự chữ vô
In tim lên đá Hương Hồ trời sao.


Huế, trọng Hạ Giáp Thân - 2004.



Cội Tung
Nam Cát Tiên.

Để tặng anh chị Nguyễn Bào & Ấu-Lăng (SàiGòn)


Tiên phương nam
rừng ly Tiên đứng
Mây nội ngàn
nắng tụ mưa tan,
Thiên căn địa khí tuần hoàn
Trời hô đất hấp đạo tràng rừng xanh.

Ngang sông đò vạch đường hoành
Quanh quanh uốn lượn qua gành nước reo
Ngàn năm Tung vượt mây treo
Cúi nhìn sương đọng lá chiều gió rung

Người xưa mơ, ngủ bóng tùng
Dưới thông yên giấc, trầm hùng tiếng ngân
Nhã như nhĩ thức vang ngần
Tâm hòa gió lộng hoá thân cây ngàn.

Cội Tung linh, khí địa đàng
Toả ngời ánh đạo lạc ngàn nhã như.


Rừng Nam Cát Tiên, tháng 6/2004.


NGỌC THÁNH GIÁ

Để tặng Lữ Kiều
sinh nhật tháng phục sinh 2004.

Có chòm sao xa,
Ngôi sao
chờ tắt.
Vệt sao băng
Loang loáng tượng thiên hà.

Mơ hồ ngọc
Nắng chiều êm, nên thơ bàn tay lạ (*)
Khẳng khiu gầy, thánh giá đổ in nghiêng.


Em, từ lòng đất dung nham
Thanh thanh trong trọc khí vươn lên
Lặng thinh sầu bên em người nghệ sĩ.
Chàng ngắm nghía
Hình hài em,
Dung nhan từ sâu thâm tâm trí
Tạc hồn em, lên môi lên mắt thành men.

Em là ngọc, ươm bóng chiều im
Đổ nghiêng Em hồn men tên thánh giá
Khẳng khiu sầu
Đừng vội,

Hãy đặt tên Em.


Huế, mạnh thu Giáp Thân

(*) Thơ Cung Nghị - Quốc Học 1960.
"Bàn tay này ngón dài như con gái
Bỗng bơ vơ đi tìm bạn, lạc xa
Và môi em mang niềm nắng cuối hạ
Đem về đốt cháy lạnh giữa lòng"






Phụ Lục
THAY LỜI BẠT





Hoa Thời Gian

... là tập bản thảo thơ thứ hai, sau bản thảo Dấu Thời Gian (1998) là tác phẩm đầu tay. Một khoảng thời gian nữa, vượt qua, trôi đi từ dấu mốc 1975. Vẫn là dấu ấn của một dòng chảy... mang theo tâm tưởng của người viết...

“,,, Thơ, tự nócó một cường lực riêng, người cảm thì cảm, người đồng điệu thì thích, người cùng hướng nhìn thì khen ...và ngược lại.
Từ Thơ, nó có đời sống của nó, sau khi viết ra rồi, chính tác giả cũng không kiểm soát được đứa con tinh thần của mình. Người đọc có quyền phê phán, cảm, ghét, mổ xẻ hay chú thích, phê bình, ngắn gọn, dài dòng, khác chi ăn, người ăn nhanh, kẻ ăn chậm, người nhiều, kẻ ít, người thứ nầy, kẻ thứ kia... Mà Thơ tự nó có sức quyến rũ riêng nó, người may mắn cùng tần số sẽ cảm, sẽ rung động. Nếu ai bàn ra, tán vào, chú thích thêm, cũng không làm hại nó...”
(trích thư 03/4/2007 – Lê Tạ Bích Đào, Houston)

Ngươi đọc nây,
Không hề khen: thơ hay,
Không dám chê: không hay.
“Biết thì thưa thốt…” Tôi vẫn còn nhớ...

... Cho nên không thể lạm bàn, tự xét là ‘ngoại đạo’. Trong ngôi đình văn chương, thơ phú, chữ nghĩa, chiếu trên, chiếu dưới, chiếu giữa,
... kia kìa ngoài hành lang còn vô số tài năng lớn nhỏ .. (dĩ nhiên không có tôi, vì tôi chỉ là lữ khách, không tham dự,như “ngươi hanh giả” chỉ tạm dừng bước, ngấp nghé ngoài cổng ngó vào)... không vì thế mà tôi không có quyền lướt qua, bất chợt một vai câu hay toàn bài, vài bài, rồi cả tập...

Khi thì thấy đồng cảm với một đôi câu, có khi, trong trí ‘vẽ’ ra ngay “hình dung tác gia”ũ khi đọc một vài bài khác - đôi khi trong sinh hoạt hằng ngày, ngược xuôi đâu đó trong một không gian xa cách hẳn môi trường thân yêu của quê hương, đang trao đổi với người bản xứ, dùng một ngôn ngữ nước ngoài, không phải tiếng mẹ đẻ, bỗng dưng, những hình ảnh, âm thanh vừa quen vừa lạ hiển hiện, ô hay: thơ từ đâu ra?

Chẳng khác đứa trẻ ngịch ngợm lạc trong vườn, tay ngắt tay hái, được một chùm, săm soi: ô! đem thu gom, cắm vào bình, như một kiểu cắm hoa lạ, cọng dài, cành ngắn, màu sắc không đồng đều, kích cỡ thì càng khác:

Một giọt nắng rơi, một trăng mơ hồ đâu đó,
Mây trên tóc giấu chút tình xưa
Nửa cuộc buồn vui tiếng thở dài

Khi phong kiếm là cả tâm tình gói lại
Một thời gói lại
Ôi tình Đất, tình quê hương nghe ngợp

Đêm hải hành tàu theo sóng vỗ
Còn khăn áo em đan
Còn đường trời đêm sao anh vói

Bất đắc bất nhiên: bàng hoàng,
Hư có thật: Ký quy
Thênh thang là cõi làm người
Chợt buông chợt bắt tiếng tôi thở dài.

Êm đềm, sâu lắng, bâng khuâng, gợi nhớ, và thêm xa vắng, trầm mặc, suy tư, đó chỉ mới là vài cảm xúc tôi có khi đọc thơ Hồ Thanh Ngạn.


Lê Tạ Bích Đào
Tháng 4/007






“... Những bài thơ ghi vội theo ngôn ngữ và nhịp điệu của hơi thở và trái tim của Ngạn, trong đó hiện ra những tự vấn muôn thuở của kiếp nhân gian...
... Hạnh phúc cho anh còn tin ở thi ca, tin ở ngôn ngữ, tin ở sự cảm thông giữa hai người, giữa một người với thế gian...
... Một trực giác hồn nhiên bẩm sinh về cuộc sống này, và hạnh phúc thay, bạn cảm thấy chia xẻ được với tha nhân trực giác ấy. Không một thoáng nghi ngại...
... Giới thiệu thơ của Ngạn ư? Thật sự không cần. Vì thơ sẽ đến trực tiếp với người đọc, không cần trung gian...”

(trích Tựa Dấu Thời Gian – LỮ KIỀU, SàiGòn 1998.









Đoàn Văn Khánh
Tản Bộ Dưới
Vòm Hoa Thời Gian




Duyên khởi từ ông anh đồng hương với tôi (cố học giả Đào Mộng Nam), bất kể sự chênh lệch tuổi tác (Hồ Thanh Ngạn: Nhâm Ngọ - tôi: Kỷ Sửu, cùng là thân trâu ngựa), anh xuề xòa kết bằng hữu vong niên với tôi tính ra cũng khá lâu rồi.
Và, sau đó, trong những lúc đắng cay lẫn ngọt bùi mà thiên địa nhân thi thoảng ban phát, anh em tôi đã cùng có mặt bên nhau để san sẻ sớt chia mà chẳng chút so đo ngại ngần toan tính …
Tôi quý mến chàng “thanh niên lâu năm” Hồ Thanh Ngạn này càng lúc càng nhiều hơn bởi tính chân phác và có phần bạt mạng... thường khi ruột để ngoài da .
Ấy thế mà anh lại đam mê trăm thứ sách vở: Kinh Dịch, tôn giáo, chính trị, xã hội... anh yêu biển nhớ anh mớ cội xưa, anh thường hay ngồi uống rượu một mình trên sân thượng, ngắm trăng dưới lấm tấm mưa sa trên màu… hoa đỏ, hay đầu trần đối chọi với cái nắng xiên khoai, cũng chẳng hề gì, cũng như anh cần mẫn trồng và chăm sóc hoa (các loài không biết chì chiết, đay nghiến đàn ông) cùng tâm tưởng với việc cảm thụ chuyện văn chương.
Những niềm đam mê ấy thường được nhà thơ ung dung chuyển tải trong các tác phẩm xuất bản làm nhiều lần, nhưng mỗi lần chỉ vài mươi bản, căn cứ theo… “tinh thần hiến pháp” và anh gọi nó là… bản thảo.
Bản thảo nào cũng có hai chữ “thời gian”: Hoa Thời Gian, Hương Thời Gian, Màu Thời Gian, Vết Thời Gian, hay Nụ Thời Gian, vân vân… Thời Gian và Dấu Thời Gian vân vân…
Ngược giòng thời gian của Hồ Thanh Ngạn, tôi bắt gặp khá nhiều mảnh vỡ sắc cạnh đầy gai góc mà nhà thơ có lẽ đã hết sức gian truân,... la đà như tiếng chuông Thiên Mụ,. canh gà Thọ Xương... mới vượt qua được, để đến bây giờ tự tại an nhàn.

Mảnh vỡ một thời trẻ trai đầy khát vọng kiếm tìm nhưng khó mà bắt gặp và thể hiện được:

Có khi bất ngờ
Ngẩn ngơ ngàn kiếp trước
Có khi thoáng chốc
Bất chợt một lời câm
Thoáng có không trôi nổi ngàn năm
Hoa vẫn nở đá mòn dòng nước chảy…
(Tiếng Hét Câm)

Mảnh vỡ bởi lửa đạn chiến chinh đành đoạn gầy nên vạn cuộc tử sinh:

Thương, trái tim ai máu không còn chảy
Thương hận thù thôi lửa hờn căm
Vẫn thương ai nét mắt đăm đăm
Biển khổ đòi biển thương
Nơi nơi máu còn chảy…
(Mấy Thương)

Và bi ai nhất chính là mảnh vỡ của lí tưởng một sớm một chiều rất hạ… bỗng tang thương dâu bể:

“Phong kiếm lại hồn ai cao ngất
Ta một thời chất ngất nỗi đau
Hòa hội nhập mấy vơi niềm sầu…”
(Vết Hằn Thương)

Xưa Tô Vũ, rồi Bùi Giáng, và sau này có một thời, một giai đoạn điêu linh thống khổ, anh cũng :
“… áo vá vai, túi đeo, chiếc giày há miệng…” vung roi tình tự với đàn bò, để quên phận lưu đày trên chính quê hương bản thổ – những mong được như hiền giả buông trâu, thõng tay vào chợ (!)

Tôi thương tôi
Cùng đàn bò những lần qua suối
Giữa đất trời cây cỏ cùng thương
(Mấy Thương)

Tìm về sử xanh tích cũ thấy hoang phế rong rêu lại càng thêm đứt ruột:

Thân đá cổ thành xưa, xếp xó
Rùa thiêng, văn miếu, mở lưng không
Ngàn năm đội mãi trời xanh cũ
Ta, vuốt ve đây đoạn nỗi lòng
(Tấm Bia Không Ở Văn Miếu)

Cố tri cũng bỏ ta mà đi:

“…Vô Ngôn, Kinh” một lời say
Lặng im canh cánh lời này nghìn sau

Thôi anh đành cắn nỗi đau
Nửa non xanh ngắt nửa màu nước trong
Nửa tim chia xẻ nửa lòng
Trăm xưa Huế tím ngát dòng Hương xưa…”
(Khóc Trần Thương Bá)

Khóc Trần Thương Bá hay chính là anh cũng đang khóc cho mình, cho “thời” cho “hàng” của anh đó chăng?

Giọt rượu tràn mảnh vỡ loang loang
Nụ cười buồn bốn mắt bờ hối
Khuyết trăng đêm nhờ nhờ nước nổi
Lạnh ngoài trời lạnh thấu tâm can
(Mảnh Vỡ Trong Suốt)

Thế giới và ngôn ngữ nhà thơ rất riêng lẻ, đặc thù, một mình một cõi sa mù tăm tắp. Tứ thơ nhiều lúc lạ lùng, giáng xuống đầy bất ngờ, bí hiểm đôi khi khiến cho người thưởng ngoạn ngờ rằng thi sĩ đang đánh đố nhân gian…
Và, tôi chợt tươi tỉnh hẳn lên khi bắt gặp những đoạn, những câu, những ý những tứ thật lãng mạn trữ tình đầy cảm xúc, hứng khởi trong chùm thơ anh viết để riêng tặng Ana – người bạn đời, dường như tiếng hát và nhan sắc vượt ngoài vòng kiềm tỏa của thời gian:

Sáu mươi năm tròn
Em tưởng thoáng một ngày qua
Tuổi thanh xuân vẫy gọi giấc mơ hoa
Mây theo nắng
Xanh xanh lên trời xanh áo trắng
Hồn học trò thêu mộng bến sông xa
(Hoa Sinh Nhật)

Ôi khuôn biển anh vung vòng tay vẽ
Hình hài em, đêm dỗ nhẹ lời ru
Bọt sóng xao lấp lánh lá thu
Vàng trải thảm lung linh, màu áo lụa
(Biển Lá Vàng)

… Tháng 5
Bầu trời vắng lặng
Mây ở xa
Đêm trong vắt mỗi đêm về
Nhớ Huế xưa,
Khung trời em rộn rã tiếng ve
Tóc lơi lả ngang vai thề, ngàn sao chớp mắt…
(Sinh Nhật Em 55)

Khung trời Huế, tóc em
Còn đâu vai vàng lá đổ
Nhớ mùa hè
Là nhớ mùa hoa phượng đỏ
Nhớ đến anh
Hoa biển trắng lung linh
Mỗi lần ra khơi anh hải trình
Ánh trăng mang màu nước mặn
Bầu trời sao chớp mắt cười người thủy thủ
(Sinh Nhật Em 55)

Có một bài thơ của Hồ Thanh Ngạn mà cho tới bây giờ họa sĩ Mặc Trí và tôi vẫn rất mực tâm đắc, nhất là mỗi lần nghe lại giọng diễn ngâm của chị Lệ Hiền (phu nhân nhà thơ Trần Thiện Hiệp) trong CD Sảng Khoái Thơ Vang Một Góc Trời mà chúng tôi, bằng hữu của anh, góp công thực hiện, mừng sinh nhật anh lần thứ 62 (ngày 10.10.2004).

Bài Côi Tung Nam Cát Tiên, lời thơ hùng vĩ mà man mác buồn như môt bức tranh sơn thủy.
… Ngang sông đò vạch đường hoành
Quanh quanh uốn lượn qua gành nước reo
Ngàn năm Tung vượt mây treo
Cúi nhìn sương đọng lá chiều gió rung

Nhã như nhĩ thức vang lừng
Tâm hòa gió lộng hóa thân cây ngàn…

Hãy rót đầy ly cạn và cùng nhau uống cạn ly đầy. Bia hay rượu đều là... thi tửu bởi niềm thi hứng đang tràn bờ. Ta uống để mừng nhau. Mừng Hoa Thời Gian của nhà thơ Hồ Thanh Ngạn trổ hương phô sắc mặc giòng đời có nghiệt ngã đến đâu…
Trân trọng./.
Đoàn văn Khánh
“Thanh Minh trong tiết tháng ba”















TRÂN THIỆN HIỆP
Một góc nhìn
về thi tập “HOA THỜI GIAN”



Thi tập Hoa Thời Gian của Hồ Thanh Ngạn gồm hơn sáu mươi bài thơ ngắn, dài trình bày hết sức trang nhã với các phụ bản màu và đen trắng của 3 Họa sĩ Thân Trọng Minh, Mặc Trí và Lê Ký Thương. Tập thơ được in ấn dưới hình thức bản thảo, nhưng sang trọng, gây cho người đọc có cảm tình ngay khi mới nhìn qua.

Hoa Thời Gian là kết đúc chữ nghĩa của một tâm hồn đầy trăn trở, tự truy vấn, nhìn lại dấu chân mình trên con đường vô cùng của thời gian. Con đường thời gian ấy của nhà thơ họ Hồ có đầy đủ vui buồn, thành bại, hạnh phúc, khổ đau, nhưng cũng có sắc màu, có dư hương, nụ và hoa.
Hồ Thanh Ngạn nghĩ đến, nói về những gì mình đã gặp, đã trải qua trên con đường thời gian bằng lời thơ chân chất, không hoa mỹ, đầy suy nghiệm tuổi đời, có nỗi ngậm ngùi mà không bi lụy, thở than. Ông tự tin, chấp nhận nghịch cảnh trong cuộc trần ai mà đi tới, như an phận mà tự tại:

Tôi tin tôi,
Tôi tin dòng sinh mệnh.
Chút hình hài thỏa cuộc keo sơn
Chút trăm năm, chút bóng càn khôn
Khi rồi cuộc, cõi về tôi trở lại.
(Ngôi Sao của tôi)

Người xưa, tròn tuổi khi trăm tuổi
Sông, sông, vạch đất vẫn ngậm ngùi
Ta nay hoa giáp, thêm chữ thọ
Phiên phiến gánh đời chắc cũng xuôi
(Tuổi Thơ Hoa Giáp)

Thơ Hồ Thanh Ngạn là một bứt phá niêm luật, không câu nệ thể cách cấu trúc. Nhà thơ họ Hồ như một kiếm khách với chiêu thức lạ lẫm, một mình một bóng, đi tìm lại những kỷ niêm một đời thăng trầm, lãng mạn:

Em mùa Thu, anh yêu màu cỏ úa
Aùo ai vàng, anh tô vẽ ánh trăng
Trải trăm năm anh ngước mắt mấy lần?
Tim lành lạnh
Giấc mơ anh ‘trăng-hàn-lộ’
(Bất Đắc Bất Nhiên)

Giữa tháng nắng
Trăng theo rằm trọng Hạ
Sáu mươi năm tròn,
Em tưởng thoáng một ngày qua.
Tuổi thanh xuân vẫy gọi giấc mơ hoa
Mây theo nắng
Xanh xanh lên trời xanh áo trắng
Hồn học trò thêu mộng bến sông xa
(Hoa Sinh Nhật)

Hồ Thanh Ngạn vốn là một người lính biển, mang mộng hải hồ khi bước vào đời với hoài bão tuổi trẻ đầy mộng mơ. Trong những chuyến hải hành giữa biển sóng, trời cao và cả khi giữa biển đời, ông làm thơ:

Biển động rồi
Vào đây say chút đất bờ.
Say say đất, chập chờn
Đất liền lay sóng
Thời trẻ trai một thời sóng động
Biển bạc đầu lấp bạc đầu xanh
(Đuốc Biển)

Anh,
Trí nhớ làm trời cao
Đêm hải hành tàu theo sóng vỗ

Còn khăn áo em đan
Còn đường trời đêm sao anh vói.
(Biển Lá Vàng)

Rồi đổi đời, đối diện với bi thương tang hải, ông cũng làm thơ. Ta hãy lắng nghe tâm sự chua xót của nhà thơ:

Cay sao phận số tù đày
Đắng sao thương cảm một đời bỏ đi
Dao chẳng cắt vết thương ghi
Chân gông xiềng xích thầm thì nỗi đau
Thời gian bay đáy mắt sâu
Tôi ngồi lặng ngắm mối sầu thời gian.
(Như Tiếng Thở Dài)

Đôi lúc thơ Hồ Thanh Ngạn như chuyện trò bên chung trà, chén rượu với bằng hữu, khiến người ta có cảm tưởng ông làm thơ dễ dàng, nhưng đó là một nét bứt phá của thơ Hồ Thanh Ngạn:

Nghiệp và nghiệp
Phải,
Ta đã quen.
Không phải vũng nước nhân sinh,
Khi phong kiếm
Là cả tâm tình gói lại
Một thời gói lại
(Vết hằn, Thương)

Hay như trong Giấc Mơ Bé, nhà thơ hạ bút:

Triều đình không còn
Quan lại không còn
Xe song mã không còn, mà ‘xích-lô’ chưa có

Làm sao?
Ôi làm sao mơ tưởng
‘Hạt cườm’... nơi sân máy bay đậu!

Trong thi tập Hoa Thời Gian của Hồ Thanh Ngạn cũng bàng bạc đây đó những vần lục bát rất tới, rất trữ tình, hoặc viết về nỗi xót xa thân phận trong cuộc bể dâu:

Hồng hoang em đợi sang sông
Theo mây làm tóc lòng hong hẹn hò
Đá xanh huyền vũ xa mờ
Lá quay nửa nhịp hoa chờ cuồng đông
(Hành Tinh Nhân Loại)

Không mong rồi sẽ luân hồi
Miên miên xao động cũng rồi lặng câm
Vói tay cột đám phù vân
Tìm trong tịch lặng bước thầm lối hoa
(Vô Hối)

Mỗi nhà thơ đều có chiêu thức riêng cho thơ mình, và cố gắng vận dụng ngôn ngữ thơ cho vần điệu thăng hoa. Thơ có đạt hay không còn tùy cái duyên với thi ca. Nhưng muôn đời thơ vẫn là nét đẹp của nhân sinh. Tôi luôn trân trọng người làm thơ, vì họ tự đem lòng mình chia xẻ với tha nhân.
Chữ nghĩa của nhà thơ là tim óc của họ gởi gắm lên trang giấy. Đọc Hoa Thời Gian của nhà thơ Hồ Thanh Ngạn tôi thấy được tác giả vô cùng yêu thơ và sống chung thủy với thi ca. Ông cố khai phá và đưa thơ mình đi tới. Điều đó chắc bằng hữu được ông tặng thi tập Hoa Thời Gian cũng đồng nhận xét với tôi.


Trần Thiện Hiệp
Linh Đông thôn

Vào Hạ 2007
 


 

 Copy right © 2002 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved