Đường Thi II
Tuyển Tập Thơ
Võ Thị Xuân Ðào phỏng dịch



      

 

1   Trường tương tư                    Lương Ý Nương

2   Trường tương tư                    Bạch Cư dị

3   Trường ương tư                     Lâm Bô

4   Trường tương tư                    Lý Bạch

5   Trường tương tư                    Vương Duy

6   Thu Phong thanh                    Lý Bạch

7   Tĩnh dạ tứ                             Lý Bạch

8   Phỏng đáy Thiên sơn Đạo sĩ bất ngộ.      Lý Bạch

9   Thiếp Bạc mệnh                      Lý Bạch

10  Đường Đa lệnh  Liễu nhứ          Lâm Đại Ngọc

11  Chung sinh ngộ                      Lâm Đại Ngọc

12  Kim Lũ Y                               Đỗ Thu Nương

13  Hoàng Hạc Lâu                      Thôi Hiệu

14  Đông dạ văn trùng                  Bạch Cư Dị

15  Nguyên nhựt                         Vương An Thạch

16  Lữ Túc                                 Đỗ Mục

17  Chung nam biệt nghiệp            Vương Duy

18  Thu dạ khúc                          Vương Duy

19  Vị thành khúc                        Vương Duy

20  Xuất tái                                Vương Xương Linh

21  Khuê oán                              Vương Xương Linh

22  Tống Lý Đoan                        Lư Luân

23  Nguyệt dạ                             Đỗ Phủ

 

 

 

 

Tương tư

 

Lâm Ý Nương

 

Hoa hoa diệp diệp lạc phân phân

Chung nhật tư quân bất kiến quân

Trường dục đoạn hề trường dục đoạn

Lệ châu ngân thượng cảnh thiêm ngân

 

Ngã hữu nhất thốn tâm

Vô nhân cộng ngã thuyết

Nguyên phong suy tán vân

Tố dữ thiên biên nguyệt

 

Huề cầm thượng cao lâu

Lâu cao nguyệt hoa mãn

Tương tư đàn vị chung

Lệ trích cầm huyền đoạn

 

Nhân đạo Tương giang thâm

Vị đề tương tư bán

Giang thâm chung  hữu để

Tương tư vô giai ngạn

 

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thuỷ

 

Mộng hồn phi bất đáo

Sở khiếm duy nhất tử

Nhập ngã tương tư môn

Tri ngã tương tư khổ

 

Trường tương tư hề trường tương tư

Trường tương tư hề vô tận cực

Tảo tri như thử quai nhân tâm

Hồi bất đương sơ mạc tương thức

 

Lương Ý Nương

 

 

 

Tương tư

 

Lá hoa rơi rựng tơi bời

Nhớ người chẳng thấy dáng người đâu đâu

Lòng đau đoài đoạn lòng đau

Lệ rơi lã chã dạt dào lệ rơi

 

Biết tìm ai hỏi đôi lời

Tấc lòng riêng chỉ một đời ta thôi

Đuổi mây nhờ gió chuyển vời

Cùng trăng bày tỏ đầy vơi chút tình

 

Lầu cao trăng sáng lung linh

Ôm đàn lên gởi âm thinh ngút ngàn

Tương tư một khúc chưa tàn

Lệ rơi xuống đứt dây đàn nửa cung

 

Lời người : thăm thẵm sông Tương

Tương tư nổi ấy khó lường nông sâu

Lòng sông còn biết nơi đâu

Tương tư nào biết bao lâu bến bờ

 

Đầu sông chàng ở đợi chờ

Cuối sông thiếp ở bơ phờ lòng đau

Nhớ nhau chẳng thấy mặt nhau

Nước sông cùng uống dạ sầu cùng chung

 

Mộng lòng bay cõi mông lung

Tơ vương đến chết vẫn cùng vương tơ

Ai vào trong ngõ tương tư

Mới hay bể khổ không từ một ai

 

Tương tư mãi , tương tư dài

Tương tư khôn xiết vẫn hoài tương tư

Biết rằng dạ khổ ngẩn ngơ

Khi xưa ta chớ đợi chờ gặp nhau

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Trường tương tư

 

Biện thủy  lưu

Tứ thủy lưu

Lưu đáo Qua Châu cổ độ sầu

Ngô sơn điểm điểm sầu

 

Tư tư du

Hận du du

Hận đáo qui thời thượng thủy hưu

Nguyệt minh nhân ỷ lâu

 

Bạch Cư Dị

[ 772-846]

* Bạch Cư Dị : tự Lạc Thiên, quê Thái nguyên, Sơn Tây,.Đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi,chức Hiệu Lang, thăng Hàn lâm  học sĩ, thăng Thái tử tán thiện đại phu…Cuộc đời làm quan của ông thăng giáng nhiều lần…Sau về vui thú điên viên , bạn cùng thơ rượu, hưởng nhàn lạc.

 
 

Trường tương tư

 

Một dòng sông Biện chảy xuôi

Đôi dòng sông Tứ nước trôi miệt mài

Qua Châu bến cũ u hoài

Đỉnh Ngô Sơn lóp lớp phai nổi sầu

Niềm riêng cô đọng dài lâu

Óan hờn biết gởi về đâu hởi chàng*

Bao giờ trở lại gia trang

Bên lầu trăng sáng thiếp mang mang chờ *

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

* Mượn ý Bạch Tiên sinh

 

 

 

 

Trường tương tư

 

Ngô sơn thanh

Việt sơn thanh

Lưỡng ngạn thanh sơn tương tống nghinh

Quân lệ doanh

Thiếp lệ doanh

La đới đồng tâm kết vị thanh

Giang đầu triều dĩ binh

 

Lâm Bô

[ 967-1028 ]

* Lâm Bô ; hiệu Tây Hồ Lâm Hòa Tỉnh , tự Quân Phục, người Tiền Đường [ Hàng Châu ] Học giỏi nhưng không ra làm quan,ẩn cư trên núi Cô Sơn,bạn cùnc him hạc , hoa mai

 

 

Nỗi nhớ khôn nguôi

 

Núi ngô xanh , núi Việt xanh

Hai bên sông lạnh nghiêng mình đón đưa

Cách ngăn biết tỏ sao vừa

Chàng rưng rưng mắt , thiếp mưa lệ đầy

Chử đồng chưa vẹn chia tay

Nước trong sông cạn rồi đầy bao phen

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Trường tương tư

 

Trường tương tư tại Trường An

Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan

Vi sương thê thê đạm sắc hàn

Tô đăng bất minh tứ dục tuyệt

Quyển duy vọng nguyệt không trường than

Mỹ nhân như hoa cách vân đoan

Thượng hữu thanh minh chi cao thiên

Hạ hữu lục thuỷ chi ba lãng

Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ

Mộng hồn bất đáo quan san nan

Trường tương tư tối tâm cang

 

Lý Bạch

[ 701-762 ]

* Lý Bạch : tự Thái bạch ,hiệuThanh Liên cư sĩ,quê Thanh Liên ,Tứ Xuyên ,học rất giỏi,thuộc nhiều kỳ thư nhưng không ra ứng thí, hạ tri Chương tiến cử, chức Hàn Lâm Cung Phụng.Vua ưu đãi nhưng không trọng dụng,ông bỏ quan đi ngao du .Nổi tiếng tửu tiên,thi tiên, thơ ông khóang đạt ,phóng túng .Người cho là Tửu tiên ông trăng trên dòng sông Thái Thạch ngủ nghìn thi ,dựng “ Tróc Nguuệt Đài “ kỷ niện Trích Tiên về thượng giới ,

 
 

Trường tương tư

 

Trường An nổi nhớ nhung dài

Thu sang tiếng dế bi ai giếng vàng

Sương khuya lạnh lẽo chiếu chăn

Ngọn đèn mờ nhạt băn khoăn nổi niềm

Cuộn rèm hỏi nguyệt cô miên

Bóng hoa biền biệt mấy miền thâm sâu

Trời cao xanh ngắt một mầu

Nước trong ngọn sóng lao xao gió ngàn

Đường xa trời rộng gian nan

Quan san cách trở mộng tàn hồn ơi !

Nhớ thương thương nhớ tơi bời

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Tương tư

 

Hồng đậu sinh Nam Quốc

Xuân lai phát kỷ chi

Nguyệt quân đa thái hiệt

Thử vật tối tương tư

 

Vương Duy

[ 701-761 ]

* Vương Duy : tự Ma Cật, quê Thái Nguyên, Sơn tây, đậu Tiến sĩ, chức Hữu Thập di, thăng Thượng thư Hữu thừa . Ông thơ hay vẽ giỏi, thấm nhuần triết lý đạo  Phật, Thiền phái Nam Tông đời Đường ,đương thời gọi ông là Thi Phật .

 

 

Tương tư

 

Cây Hồng đậu xứ Lĩnh nam

Đón mùa xuân đến trổ mầm xinh tươi

Thật nhiều hái lấy chàng ơi

Hái bao nhiêu lại suốt đời tương tư

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Thu phong thanh

 

Thu phong thanh

Thu nguyệt minh

Lạc diệp tụ hoàn tán

Hàn nha thê phục kinh

Tương tư tương kiến  tri hà nhật

Thử thì thử dạ nan vi tình

Nhập ngã tương tư môn

Tri ngã tương tư khổ

Trường tương tư hề trường tương ức

Đoản tương tư hề vô cùng cực

Tảo tri như thử bán nhân tâm

Hoàn như đương sơ bất tương thức

 

Lý Bạch

 

 

Khúc gió trăng thu

 

Nhẹ nhàng cơn gió thu trong

Trăng thu lồng lộng một vầng sáng soi

Lá rơi phơ phất bên trời

Kinh hoàng quạ vút cánh rời cành bay

Nhớ nhau biết đến bao ngày

Thương nhau biết ngõ cùng ai đêm nầy

Bước vào lối ấy tình say

Mới hay nổi đắng niềm cay ơi người

Nhớ thương thương nhớ theo hoài

Tương tư nổi ấy vắn dài nông sâu

Xưa kia biết được lòng sầu

Gặp nhau  xin chớ tâm đầu cùng nhau

 

Võ thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Tĩnh dạ tứ

 

Sàn tiền khán* nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

 

Lý Bạch

* Minh : Trong bản khác viết

Sàn tiền minh nguyệt quang

 

 

Đêm yên nổi nhớ

 

Bóng trăng soi sáng trước giừờng

Tưởng như mặt đất trắng sương che mờ

Ngẩng lên trăng tỏ trên trời

Cúi đầu nhung nhớ xa vời cố hương

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 


 

 

Phỏng đái Thiên Sơn

Đạo sĩ bất ngộ

 

Khuyển phệ thủy thanh trung

Đào hoa đới vũ nùng

Thụ thâm thì kiến lộc

Khê ngọ bất văn chung

Dã trúc phân thanh ái

Phi tuyền quải bích phong

Vô nhân tri sở vãng

Sấu ỷ lưỡng tam tùng

 

Lý Bạch

 

 

Thiên Sơn viếng bạn

 

Thác rơi chó sủa mông lung

Thắm tươi đào nở đón mừng mưa bay

Rừng sâu thấp thoáng bóng nai

Chuông trưa khe nước xa xôi không về

Mây xanh rừng trúc lê thê

Lửng lơ thác nước bốn bề núi cao

Người đâu không thấy ra vào

Ngẩn ngơ tùng bách rạt rào dăm ba

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

Thiếp bạc mệnh

 

Hán đế trọng A Kiều

Trử chi hòang kim ốc

Khái thóa lạc cửu thiên

Tùy phong sinh châu ngọc

Sủng cực ái hòan yết

Đố thân tình khước sơ

Trường môn nhất bộ địa

Bất khẳng tạm hồi xa

Vũ lạc bất thượng thiên

Thủy phúc trùng nan thâu

Quân tình dư thiếp ý

Cách tự đông tây lưu

Tích nhật Phù dung hoa

Kim thành đoạn căn thảo

Dĩ sắc tự tha nhân

 

Lý bạch

 

 

Thiếp bạc mệnh

 

Hán Vương yêu quí A Kiều

Lầu son điện ngọc mỹ miều an cư

Chín tầng êm ái oanh ca

Bay trong gió nở ngọc ngà ngữ ngôn

Đắm say đến lúc mõi mòn

Lửa yêu dập tắt không còn tình xưa

[ dây chùng phím loạn đôi đàn tình xưa]*

Trương môn một bước chưa vừa

Dấu xe ngựa cũng đợi chờ một mai

Mưa ơi  chẵng trở lên trời

Hốt  sao đầy chén đã rơi xuống trần

Tính nầy ý ấy cùng Quân

Đông tây đôi ngã không gần với nhau

Phù dung tự thuở ban đầu

Nay thân cỏ dại dãi dầu bơ vơ

Lấy thân hương sắc nương nhờ

Mấy khi được trọn duyên tơ với người

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

*  TTD

 

 

 

 

Đường đa lệnh

Liễu nhứ

 

Phấn đọa bách hoa châu

Hương tàn yến tử lâu

Nhất đoàn đoàn trục đối thành cầu

Phiêu bạc diệc như nhân mệnh bạc

Không khiển quyển thuyết phong lưu

Thảo mộc dã tri sầu

Thiều hoa cánh bạch  đầu

Thán kim sinh thùy thập thùy thu

Giá dữ đông phong xuân bất quản

Bằng nhĩ khứ nhẫn yêm lưu

 
 

Lâm Đại Ngọc

*  Nhân vật trong tuyệt phẩm Hồng Lâu Mộng

 

Phấn rơi trên bãi trăm hoa

Trong lầu chim én phôi pha hương tàn

Từng đoàn cầu đã bay sang

Phất phơ phiêu bạc hoang mang phận người

Luyến lưu gì chuyện phong lưu

Cỏ cây cũng vướng u sầu bấy lâu

Xuân xanh đã nhuốm bạc đầu

Than rằng được mất kiếp nầy đã thông

Đón xuân cưỡi ngọn đông phong

Một đi đi mãi cũng không nhớ gì

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 


 

 

Chung sinh ngộ

 

Đô đạo thị kim ngọc lương duyên

Yêm chỉ mộc thạch tiền minh

Không đối trước

Sơn trung cao sĩ tinh oánh tuyết

Thán nhân gian

Mỹ trung bất túc kim phương tin

Tung nhiên thị đề mi cử án đáo để ý nan tình

 

Lâm Đại Ngọc

 
 

Lỡ nhau suốt đời

 

Người ca vàng ngọc duyên lành

Ta nhìn cây đá thẹn mình thề xưa

Vẫn như trước mặt ơ hờ

Núi cao ẩn sĩ tinh mơ lặng nhìn

Rằng quên hãy nhớ rằng quên

Cánh rừng tịch mịch nàng tiên giữa trần

Thở than cùng với nhân gian

Càng trông kiều mị càng bàng hoàng say

Dù cho án đặt ngang mày

Dù tình riêng vẫn ngày rày chưa yên

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ] 

 

 

 
 

 

Kim Lũ Y

 

Khuyến quân mạc tích Kim lũ y

Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì

Hoa khai kham chiết trực tu chiết

Mạc đãi vô hoa không chiết chi

 

Đỗ Thu Nương

* Đỗ Thu Nương : quê Kim lăng, ái thiếp của Tiết Độ Sứ Trấn Hải Lý Kỳ , sắc đẹp, thơ  giỏi, hát hay ,viết khúc Kim Lũ Y chuốc chén mời chồng , bà vào Cung dạy Hòang tử Chương Vương  đời Mục Tông, về hưu trí đời Văn Tông.

 

 

Áo vàng

 

Tiếc chi chiếc áo thêu vàng

Xin chàng hãy nhớ thuở hoàng kim xưa

Hái tầm xuân lúc sương mơ

Xin chàng yêu ái chớ chờ cành khô

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 
 

 

Hoàng Hạc Lâu

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thựơng sử nhân sầu

 

Thôi Hiệu

[ 704-754 ]

Thôi Hiệu : quê Biện Châu, thuộcHà Nam hiện nay.Đỗ tiến sĩ ,chức Tư Huân Viên Ngọai Lang,  tính mê rượu chè gái đẹp, trăng hoa , thay vợ như thay áo. Bài thơ đề lầu Hòang Hạc   đã làm cho thi tiên Lý bạch  phải than

  “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc

   Thôi hiệu đề thi tại thượng lầu”

Kim Thánh Thán cũng ca ngợi : Bút pháp chuyển tuyệt kỳ …

 
 

Bên lầu Hoàng Hạc

 

Người xưa cởi hạc về đâu

Còn đây Hoàng Hạc dãi dầu nắng mưa

Hạc vàng đã khuất từ xưa

Nghìn năm mây trắng hững hờ bay bay

Hán Dương cây nước u hoài

Cỏ non Anh Vũ xanh dài nhớ thương

Quê hương khuất nẻo chiều buông

Đầu sông khói tỏa buồn vương vương buồn

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Đông dạ văn trùng

 

Trùng thanh đông tứ khổ ư thu

Bất giải sầu nhân văn diệc sầu

Ngã thị lão nhân thính bất uý

Thiếu niên mạc thính bạch quân đầu

 

Bạch Cư Dị
 

 

Nghe tiếng côn trùng

 

Côn trùng ai oán tiết đông

Sầu thu chưa giải chất chồng thêm cao

Lòng già nghe cũng nao nao

Tuổi xanh nghe mãi bạc đầu như ai

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Nguyên nhựt

 

Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ

Xuân phong tống noãn nhập Đồ Tô

Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhựt

Tổng bả tân đào hoán cựu phù

 

Vương An Thạch

 

 

Tết Nguyên đán

 

Pháo đưa tiển bước năm tàn

Gió xuân hâm nóng chén hàn Đồ Tô

Nghìn nhà mở đón tinh mơ

Gỡ nêu năm cũ đón Đào xuân tươi

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

 

Lữ túc

 

Lữ quán vô lương bạn

Ngưng tình tự tiểu nhiên

Hàn đăng tư cựu sự

Đoạn nhạn cảnh sầu miên

Viễn mộng qui xâm hiểu

Gia thư đáo cánh niên

Thương giang hảo yên nguyệt

Môn đệ điếu ngư thuyền

 

Đỗ Mục

[ 803-853 ]

* Đỗ Mục: tự Mục chi, hiệu Phàn Xuyên, quê Lâm Đồng,Thiểm tây .Đỗ tiến sĩ, chức Giám Sát ngự sử,  Oâng dâng vua nhiều bảng điều trần giá trị. Tính phóng lãng, không lòn cúi, sau thiên ra Thứ sử Hàng Châu , Trì Châu rồi Hồ Châu …

 

Quán trọ

 

Cô đơn quán trọ dừng chân

Nổi niềm riêng lại bâng khâng ngậm ngùi

Chông đèn chuyện cũ trầm tư

Đau thương tiếng nhạn trong trời thê lương

Giấc mơ mơ giấc đêm trường

Thư nhà năm trước vấn vương cõi lòng

Trăng xanh soi bóng nước trong

Thuyền câu đỗ bến bềnh bồng sóng trăng

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Chung nam biệt nghiệp

 

Trung tuế pha hảo đạo

Vãn gia Nam Sơn thùy

Hứng lai mỗi độc vãng

Thắng sự không tự tri

Hành đáo thủy cùng xứ

Tọa khán vân khởi thì

Ngẫu nhiên trí lâm tẩu

Đàm tiếu vô hoàn kỳ

 

Vương Duy

 

Ẩn  Núi Chung Nam

 

Nửa đời chọn đạo làm vui

Nam Sơn bên núi cuối đời bình an

Khi vui cất bước lang thang

Ung dung tự tại bên mình an nhiên

Nguồn cao cõi tận về miền

Ngắm mây trắng thổi bình yên trong trời

Rừng sâu gặp gỡ một người

Mãi mê đàm đạo quên nơi trở về

 

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Thu Dạ Khúc

 

Quế phách sơ sinh thu lộ vi

Khinh la dĩ bạc vị cánh y

Ngân tranh dạ cữu ân cần lộng

Tâm khiếp không phòng bất nhẫn qui

 

Vương Duy

 

Khúc hát đêm  thu

 

Sương thu bàng bạc trăng non

Aùo mây lụa mỏng vẫn còn chưa thay

Lặng nhìn đàn ấy đêm nay

Sợ phòng đơn lạnh không quay trở về

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Vị thành khúc

 

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần

Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

Tây xuất dương quan vô cố nhân

 

Vương Duy

 

Khúc hát Vị thành

 

Vị thành cát ẩm mưa rơi

Bên ngoài quán trọ liễu phơi mượt mà

Mời chàng chén tiển cùng ta

Một mai Tây xuất ai là  cố nhân
 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

 

Xuất tái

 

Tần thời minh Nguyệt hán thời quan

Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn

Đản sử Long Thành phi tướng tại

Bấi giao Hồ Mã độ âm sơn

 

Vương Xương Linh

[ 698-757 ]

*  Vương Xương Linh: tự Thiếu bá,  quê Giang Ninh, Giang tô, đỗ tiến sĩ thêm khoa Bác học Hòanh từ, chức Hiệu Thư Lang, thiên ra Hiệu úy Dĩ Thủy , rồi Hiệu úy Long tiêu.Oâng bị thứ sử Lư Kha^u Hiếu sát hại, môn sinh Trượng cảo , Trấn Thủ Hà Nam bắt Lư đền tội tế lễ Thầy .

 

 

 

Xuất tái

 

Trăng Tần trăng hán Nhạn quan

Trường chinh quay gót dặm ngàn mấy ai

Long Thành Phi tướng* còn đây

Âm sơn Hồ mã không ngày vượt qua

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

* Phi tướng : Ly’Quãng

 

Khuê oán

 

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu

Hốt kiến mạch sầu dương liễu đắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

 

Vương Xương Linh

 

 

Khuê oán

 

Phòng khuê thiếp chẳng biết sầu

Ngưng tay trang điểm thúy lầu dạo chơi

Thóat nhìn liễu biếc xanh tươi

Ngẩn ngơ tự hối chàng nơi công hầu

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

Tống Lý Đoan

 

Cố quan suy thảo biến

Ly biệt chính kham  bi

Lộ xuất hàn vân ngoại

Nhân qui mộ tuyết thì

Thiếu cô vi khách tảo

Đa nạn thức quân trì

Yểm khấp không tương hướng

Phong trần hà sở kỳ

 

Lư Luân

[ 748-800 ]

* Lư Luân : tự Dõan Ngôn quê Hà Trung, Bồ Châu. Được tiến cử chức Bổ khuyềt hương úy,thăng Giám Sát ngự sử,, kiểm hiệu hộ bộ lang trung, ông là một trong mười tài tử Đại Lịch .

 

Tống Lý Đoan

 

Cỏ tàn quê cũ khắp nơi

Chia tay nhau dạ tơi bời chẳng kham

Tiển anh mây tạnh quan san

Chiều sương tuyết phủ mênh mang lối về

Tha phương từ thuở mồ côi

Bao nhiêu hoạn hiểu thời quá lâu

Quay lưng giấu giọt u sầu

Anh vào gió bụi bao lâu tái hồi

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

 

 

Nguyệt dạ

 

Kim dạ Phu Châu nguyệt

Khuê trung chỉ độc khan

Dao lân tiểu nhi nữ

Vị giải ức Trường An

Hương vụ vân hoàn thấp

Thanh huy ngọc túy hàn

Hà thời ỷ hư hoảng

Song chiếu lệ ngấn can

 

Đỗ Phủ

[ 712-770 ]

* Đỗ Phủ : tự Tử Mỹ ,hiệu Thiếu Lăng,quê Trường An Thiểm tây ,ngụ Tương Dương Hồ Bắc, người có thưc tài nhưng rất lận đận,  lang thang lưu lạc sang Thục, Quí Cha^u Đàm Châu …

 

Đêm trăng

 

Ngày nầy trăng sáng Phu Châu

Phòng khuê chiếc bóng u sầu hiền thê

Thương con thơ dại trời quê

Trường An con có nhớ về ta không

Tóc mây nàng ướt hương sương

Đôi tay ngà ngọc trăng trong buốt hàn

Bao giờ cùng ngắm trăng vàng

Dưới trăng chung bóng lệ tan ngấn sầu

 

Võ Thị Xuân Đào

[ Diễn ]

 

 

 

 

Khi lang thang  trong kỳ viên cổ thi , cảm tiền nhân lời hoa gấm, hậu sinh bút mực đôi dòng, vẽ lại tranh xưa, tình ý lai láng , xin chân thành …

Võ Thị Xuân Đào

Đường Thi 1

 

 

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved